Bài 1. Hội nhập vào văn hoá thế giới để loan báo Tin Mừng
Tuần thường huấn cho Giáo phận Hưng Hoá
Bài 1. Tuần thường huấn cho Giáo phận Hưng Hoá
Hội nhập vào văn hoá thế giới
để loan báo Tin Mừng
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
1. Chủ đề toàn khoá: “Người môn đệ thừa sai toả sáng”
Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), qua Thư chung ngày 10.10.2025, đã xác định chủ đề cho năm 2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14). HĐGMVN chọn chủ đề 3 năm liên tiếp là “thừa sai”.
Mỗi Kitô hữu, qua bí tích Rửa tội, được thứ tha tội lỗi, được hoà nhập thành một với Chúa Giêsu Kitô để trở thành con cái Thiên Chúa, được ban tặng muôn vàn ơn lành của Chúa Thánh Thần để thực hiện kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa là cứu độ muôn loài bằng tình yêu.
Bản chất thừa sai của Giáo Hội Công giáo. Công đồng Vaticanô II đã xác định trong Sắc lệnh Truyền giáo Ad Gentes ở số 2 rằng: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành là người được sai đi vì cội nguồn của Giáo Hội gắn liền với việc Chúa Con và Chúa Thánh Thần được sai đến theo ý định của Chúa Cha”. Như thế, Giáo Hội tự bản chất mang tính truyền giáo. (Xin xem lại các bài 1,2,3,4 trong cuốn Hội nhập Văn hoá để Loan báo Tin Mừng, NXB Tôn Giáo, 2024, tr.13-120).
Sau khi con người phạm tội, Chúa Cha đã cho Con của Ngài là Ngôi Lời Nhập thể trở thành người, để đưa tất cả nhân loại và vũ trụ trở về với mình và được chia sẻ sự sống vĩnh hằng của con cái Thiên Chúa. Nhờ Chúa Thánh Thần quy tụ, Chúa Giêsu Kitô đã thiết lập các môn đệ thành một dân mới là Giáo Hội và sai họ đi khắp thế gian để loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Do đó, lịch sử Giáo Hội chính là lịch sử truyền giáo và lịch sử của mỗi người môn đệ chúng ta cũng là việc giới thiệu con đường sự thật và sự sống của Đức Giêsu và hành động như Người để cứu độ muôn loài.
Tuy nhiên, việc giới thiệu Đức Giêsu và những lời dạy của Người cho một cá nhân hay cho một dân tộc tuỳ thuộc vào trình độ văn hoá của người loan báo Tin Mừng và của cả người được loan báo, nghĩa là cả hai bên cần có khả năng nói cho người khác nghe và hiểu được người khác nói về Đức Giêsu để đón nhận Người hay không.
Hoạt động truyền giáo này tương tự như mầu nhiệm nhập thể và nhập thế của Đức Giêsu. Người là Ngôi Lời Thiên Chúa vô hình, đã hoà nhập vào thế giới hữu hình, trở thành một người Do Thái, đón nhận nền văn hoá cụ thể của dân tộc Do Thái để rao giảng về Chúa Cha và giới thiệu con đường sự thật và sự sống của Người, như lời xác định của các người Do Thái: “Chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa” (x. Mt 22,15-21).
Đức Giêsu đã dùng những cách suy nghĩ, nói năng, hành động, cảm nhận của con người đồng thời với mình để loan báo Tin Mừng cứu độ. Đây là hoạt động mà ngày nay chúng ta gọi là hội nhập văn hoá (x. Chúng tôi cũng đã trình bày cuộc hội nhập văn hoá của Giáo hội Công giáo Việt Nam, từ năm 1533-2021, trong bài 4 của cuốn sách Hội nhập Văn hoá Công giáo ở Việt Nam, tr.73-94.), nghĩa là đem những giá trị cao quý của Thiên Chúa hoà nhập vào đời sống con người và biến đổi những giá trị tốt đẹp của con người thành cao quý, siêu việt như Thiên Chúa (x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Hội nhập Văn hoá Công giáo ở Việt Nam, bài: “Con đường Giêsu”, tr.113-140).
Lịch sử Giáo Hội toàn cầu và lịch sử Giáo hội Việt Nam đã chứng thực rằng khi người tín hữu rao giảng và sống theo những giá trị của Tin Mừng, họ luôn lôi cuốn và biến đổi được người khác, biến đổi cả dân tộc và thế giới đi theo Chúa Giêsu Kitô.
Giáo hội Công giáo đã giới thiệu cho xã hội loài người thời đó, đang sống trong nền văn hoá thống trị của đế quốc La Mã, nền văn hoá Công giáo với những giá trị nền tảng. Giá trị cao cả nhất là Thiên Chúa Ba Ngôi như một sự thật để loại bỏ tất cả các thần linh giả tạo của tôn giáo Hy Lạp và La Mã. Giá trị con người với thể xác cần được tôn trọng và linh hồn bất tử cần được cứu độ thay cho nền văn hoá La Mã tôn thờ thân xác với các dục vọng của nó và đối xử tàn tệ với các dân tộc làm nô lệ cho họ. Giá trị của gia đình một vợ một chồng, chung thuỷ với nhau cho đến chết, bảo vệ nuôi dạy con cái thay vì đa thê, trọng nam khinh nữ, phá thai. Giá trị của nền dân chủ cộng đồng đặt nền tảng trên tình yêu Thiên Chúa dành cho mọi người, thay vì dựa trên quyền lợi và sức mạnh chiếm đoạt của con người dành cho một cá nhân hay một dòng họ theo chế độ quân chủ độc tài.
Các giá trị này đã biến đổi nhiều dân tộc và cả cộng đồng nhân loại cho đến ngày nay. Mỗi khi Giáo Hội thực hành việc hội nhập văn hoá là Giáo Hội thành công trong việc truyền giáo. Tuy nhiên, từ 2000 năm nay, nhiều giá trị văn hoá mới trong Tin Mừng cũng như trong kho tàng văn hoá nhân loại đã được khám phá và phổ biến, nhưng hình như Giáo Hội toàn cầu cũng như Giáo hội Việt Nam không quan tâm để tìm kiếm và hội nhập. Kết quả là số người tin theo Đức Giêsu Kitô không tăng thêm, trái lại càng ngày càng giảm bớt.
2. Ước mơ truyền giáo hiệu quả
Uớc mơ loan báo Tin Mừng cho muôn dân tộc đạt được kết quả tốt đẹp này bắt đầu từ chính Đức Giêsu: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc đàn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một mục tử” (Ga 10,16-17). “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17, 20). Trong suốt dòng lịch sử truyền giáo của Giáo hội Công giáo, rất nhiều người đã ước mơ như vậy và đã cố gắng hết sức để loan báo Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu cho những người ở gần mình cũng như những người ở xa.
Tuy nhiên, không phải thời nào Giáo Hội cũng gặt hái được những kết quả tốt đẹp. Thượng Hội đồng Giám mục XIII đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái và yếu kém trong lĩnh vực truyền giáo (1Ths 1,5). Thượng Hội đồng Giám mục XVI mới đây cũng yêu cầu chúng ta nhìn lại các sứ vụ truyền giáo của mình, bởi vì thấy rõ sự suy thoái về kết quả truyền giáo hầu như trên khắp thế giới bắt nguồn từ đời sống kém đạo đức của các tín hữu trước những trào lưu mới của thế giới.
Nếu chúng ta so sánh số liệu của Giáo hội Công giáo Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử từ năm 1615 đến 2023 (x. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam Niên giám 2016, NXB Tôn Giáo, 2016, tr.171-194), chúng ta sẽ thấy có những thời kỳ truyền giáo rất thành công, nhưng cũng có thời kỳ suy thoái.
Chỉ trong 50 năm đầu 1615-1665, các nhà truyền giáo Dòng Tên với các thầy giảng Việt Nam đã rửa tội cho khoảng 100.000 người ở cả hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài. Đến đầu thế kỷ XIX, số tín hữu đã tăng lên đến vài trăm ngàn người.
Trong khoảng năm1659-1802, Giáo hội Việt Nam có 3 giáo phận với 320.000 tín hữu, 14 thừa sai, 121 linh mục. Vào cuối thời kỳ thử thách, từ năm 1802-1886, Giáo hội Việt Nam có 9 giáo phận với 600.000 tín hữu, chiếm khoảng 8% dân số, sau khi đạt đến tỷ lệ gần 12% dân số và bị giết hại khoảng 100.000 người trong khoảng 45 năm, từ 1840-1885.
Từ năm 1886-1960, Giáo hội Việt Nam có 3 giáo tỉnh với 25 giáo phận và 2.151.370 tín hữu, chiếm khoảng hơn 7,5% dân số, với hơn 1.800 linh mục triều, dòng và thừa sai, gần 6.000 tu sĩ nam nữ.
Từ năm 1960-2023, Giáo hội Việt Nam có 27 giáo phận. Năm 2023, số tín hữu khoảng hơn 7 triệu người, chiếm 7% dân số, với hơn 5.000 linh mục, 5.000 chủng sinh, 40.000 tu sĩ nam nữ và hơn 500.000 đoàn viên các hội đoàn Công giáo Tiến hành. Số tín hữu tân tòng mỗi năm khoảng từ 30.000 đến 40.000 người.
3. Lịch sử truyền giáo của Giáo Hội toàn cầu và Giáo hội Việt Nam giúp ta khám phá ra quy luật quan trọng để loan báo Tin Mừng cho hiệu quả.
Đó không phải là cần phải có người lãnh đạo đất nước là người Công giáo như vua Constantinus làm hoàng đế của đế quốc Rôma từ năm 313. Đó cũng không phải là cần phải xây dựng được nhiều cơ sở cho các hoạt động tôn giáo, mục vụ, từ thiện như trong vài thế kỷ sau đó. Đó cũng không phải là đào tạo nhiều người nhiệt tâm truyền giáo, nhất là giáo phẩm và giáo sĩ trong những thế kỷ sau đó từ thế kỷ V-XII vì sau đó là thời kỳ hỗn loạn trong suốt thời gian dài từ thế kỷ XIII-XVIII và đóng kín của Giáo Hội XVIII-XX. Nhưng quy luật đó là phải hội nhập văn hoá.
– Cần phải thực hiện việc hội nhập văn hoá Công giáo.
4. Thực trạng: việc loan báo Tin Mừng (LBTM) chưa có kết quả khả quan
Sau 2000 năm, việc LBTM chưa có kết quả tốt đẹp. Vào năm 2025, tỷ lệ người Kitô giáo trên toàn thế giới chiếm khoảng 31% với 2,64 tỷ người và đang có chiều hướng giảm. Tỷ lệ người Công giáo chiếm khoảng gần 18% với 1,406 tỷ người và đang có chiều hướng giảm, do người trẻ bỏ tôn giáo. Trong khi người Hồi giáo chiếm 25% dân số toàn cầu với 2 tỷ người theo đạo, chiều hướng tăng, chủ yếu là do tăng về nhân khẩu.
Ở Việt Nam sau gần 500 năm truyền đạo, từ 1533, hiện đang có khoảng 7,2 triệu người Công giáo, chiếm tỷ lệ 7,21% dân số. Vào năm 1840, Công giáo có khoảng 12% dân số. Sau thời bắt đạo khủng khiếp từ năm 1840-1885, dân số Công giáo còn khoảng 8%. Trong 140 năm qua, tỷ lệ Công giáo VN không tăng, trong khi Giáo hội Hàn Quốc tăng từ 1% vào năm 1949 đến 13% năm 2023.
5. Tại sao con người thời nay, nhất là các bạn trẻ, lãnh đạm với tôn giáo?
– Do họ tin rằng khoa học kỹ thuật có thể giải quyết được những vấn đề của con người như bệnh tật, già yếu, đói khổ.
– Do họ thấy rằng chiến tranh, xung đột, có thể được giải quyết bằng việc tổ chức lại xã hội cho tốt đẹp hơn khi mọi người nhận ra nhau là anh chị em của mình.
– Do họ thấy tôn giáo không có ý nghĩa gì với đời sống hưởng thụ của mình.
– Do họ không hiểu con người thật sự là gì, nhân phẩm cao quý như thế nào.
– Do họ thật sự không biết Thiên Chúa là ai và đang yêu thương họ như thế nào.
– Do họ thấy nhiều tôn giáo, ngay cả Công giáo, dạy những điều chưa đúng với sự thật về con người, về vũ trụ mà khoa học dạy cho họ, cũng vì Giáo hội Công giáo gần đây chưa biết hội nhập vào nền văn hoá thế giới.
6. Ở Việt Nam, nguyên nhân chính yếu nào làm cho các bạn trẻ xa lánh tôn giáo?
– Do cha mẹ chỉ biết đạo ông bà, thờ kính tổ tiên, nên không dạy con cái về tôn giáo.
* Do các giá trị tinh thần của tôn giáo bị đả phá và loại bỏ trong các bộ sách giáo khoa, từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam, tạo nên những định kiến sai lạc về tôn giáo. Hệ tư tưởng duy vật, duy khoa học được phổ biến rộng rãi đã ảnh hưởng rất nhiều đến người trẻ, khiến người ta hiểu lầm tôn giáo là mê tín và làm tha hoá con người. Chỉ từ hiến pháp năm 2013, thái độ bài tôn giáo mới giảm bớt.
– Do chính người Công giáo cũng chưa sống đạo tốt đẹp để làm chứng về Chúa Giêsu Kitô và những người có trách nhiệm chưa quan tâm đến việc hội nhập văn hoá.
– Do đời sống thực dụng, suy thoái đạo đức: xa hoa, giả dối, vô cảm, hưởng thụ vật chất của nhiều người trong xã hội, trong đó có cả những người theo các tôn giáo.
7. Nguyên nhân sâu xa nhất của việc LBTM không có hiệu quả và khiến nhiều người thời nay, nhất là các bạn trẻ, rời bỏ Kitô giáo là gì?
– Người Kitô hữu không loan báo Tin Mừng bằng ngôn ngữ của thời đại mà vẫn theo cách thức truyền giáo của vài thế kỷ trước.
– Người Kitô hữu không minh chứng được bằng thực tế của đời sống và bằng cả các phép lạ như chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ, làm cho kẻ chết sống lại và nhất là quan tâm đến việc LBTM cho người nghèo.
* Người Kitô hữu không quan tâm đến việc hội nhập văn hoá như một nguyên tắc chủ đạo mà Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhiều lần nhắc đến và được các Thượng Hội đồng giám mục XII và XVI đòi hỏi.
8. Tại sao chúng ta phải hội nhập vào nền văn hoá của thế giới để có thể loan báo Tin Mừng một cách hiệu quả?
– Vì nền văn hoá thế giới luôn có những khám phá mới mẻ mà người môn đệ Chúa Kitô cần phải biết. Ví dụ như những khám phá về con người, về vũ trụ, …
– Vì nền văn hoá nhân loại luôn có những giá trị mới cần được ta phân định tốt xấu để thích nghi với các điều liên quan đến thần học, Thánh Kinh, mục vụ, tu đức của người tín hữu. Ví dụ việc Thiên Chúa dựng nên trời đất trong 6 ngày và vũ trụ học hiện đại, việc giữ thánh lễ ngày Chúa Nhật và việc đi nghỉ du lịch cuối tuần…
– Vì chủ thể xã hội là những người nghe loan báo Tin Mừng có thể đã có sẵn những di sản văn hoá, những nhận thức, những giá trị… mà nếu ta không biết hội nhập thì ta không thể loan báo Tin Mừng cho họ. Ví dụ: việc thờ kính tổ tiên và tôn kính Đức Khổng Tử ở Trung Quốc bị chối từ vào thế kỷ XVII-XVIII nên không thể loan báo Tin Mừng cho người Trung Quốc cũng như ở châu Á một cách hiệu quả.
9. Hội nhập văn hoá của Công giáo là gì?
– Là việc đưa sứ điệp Kitô giáo vào trong nền văn hoá của các dân tộc và nền văn hoá nhân loại.
– Là việc đưa các giá trị phù hợp với Tin Mừng của các nền văn hoá ấy vào Kitô giáo.
* Là tổng hợp hai việc trên đây, nhưng được định hướng bằng mầu nhiệm nhập thể và nhập thế của Ngôi Lời Thiên Chúa là Chúa Giêsu, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần trong mỗi tín hữu.
10. Trong các định nghĩa của “văn hoá là gì?”, định nghĩa nào chính xác nhất?
– Định nghĩa của Từ điển tiếng Việt: “Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”. Đây là loại văn hoá cá nhân và tập thể.
– Định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Văn hoá là toàn bộ những cái qua đó một dân tộc tự biểu hiện mình, tự nhận biết mình và giúp các dân tộc khác nhận biết mình”. Đây là loại văn hoá dân tộc, văn hoá của một nước.
– Định nghĩa của Công đồng Vaticanô II, ở số 53 trong Gaudium et spes. Đây là nền văn hoá chung của nhân loại.
* Định nghĩa của ĐGH Bênêđictô XVI, xác định 3 yếu tố căn bản của văn hoá: liên quan đến tri thức và giá trị, gắn liền với một chủ thể xã hội, và có tính lịch sử để một dân tộc nào đó có thể hoà mình vào nền văn hoá chung của toàn thể nhân loại.
11. Vai trò của văn hoá trong đời sống người Việt vào kỷ nguyên mới của dân tộc
Ngày 07/01/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam. Mục tiêu là đến năm 2030, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển mạnh công nghiệp văn hoá gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá. Chọn ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hoá Việt Nam. Đưa văn hoá trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh và sức mạnh tinh thần to lớn, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới. Vậy người Công giáo Việt Nam đã chuẩn bị gì và góp phần nào vào việc phát triển văn hoá này?
12. Theo Thánh GH Gioan Phaolô II, ai là tác nhân chính trong việc hội nhập văn hoá?
– Mỗi con người, nếu họ có ý thức về giá trị vật chất hay tinh thần của người khác hay của dân tộc khác, họ cần phải mở lòng ra đón nhận các giá trị ấy.
– Mỗi người môn đệ rao giảng Tin Mừng, vì họ có sứ mệnh và nhiệm vụ hoà nhập vào nền văn hoá của toàn thể nhân loại.
* Chúa Thánh Thần, vì Ngài soi sáng tâm trí con người để biết chọn lựa các giá trị văn hoá và hội nhập chúng vào trong đời sống.
– Giáo hội Công giáo, vì Giáo Hội có nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi dân tộc.
13. Bản sắc văn hoá người Việt là gì?
Người Việt Nam có bản sắc riêng, có những điểm tương đồng hay khác biệt với các dân tộc khác. Bản sắc này có tính cách lịch sử, nghĩa là nó kết tinh trong chiều dài của lịch sử dân tộc với 4.000 năm văn hiến từ đời các vua Hùng dựng nước cho đến ngày nay. Nó gắn với tri thức và giá trị, nghĩa là mỗi thời kỳ người Việt có những nhận thức và tạo nên những giá trị khác nhau, nên khi sang thời kỳ khác, người Việt có thể có những nhận thức mới và giá trị mới, và giá trị cũ trước đây lại trở thành lỗi thời, thành thói xấu hay vô giá trị cần loại bỏ. Ví dụ: tính ăn cắp của công, làm việc cầm chừng của thời bị người Tàu đô hộ để phản đối kẻ thù lại trở thành thói xấu trong thời kỳ sau đó. Sau đây là các nét đặc thù như di sản văn hoá.
14. Những nét đặc thù của người Việt trước thời bị người Trung Quốc đô hộ (từ khoảng 2-3.000 năm đến 111 trước Công nguyên) là gì?
– Người Việt Nam có các nét đặc thù của nền văn hoá nông nghiệp lúa nước.
– Người Việt Nam tôn trọng và hoà hợp với thiên nhiên, có lối sống định canh, định cư và nền kinh tế tự cung, tự cấp; có cách nhận thức thiên về tổng hợp, mang tính chủ quan, theo cảm tính và kinh nghiệm hơn là mang tính khách quan và hợp lý theo hệ thống suy tư rõ ràng.
– Trong mối quan hệ với gia đình, người Việt trọng nữ và theo chế độ mẫu hệ.
– Trong mối quan hệ xã hội, người Việt gắn bó chặt chẽ với gia tộc và xóm làng: trọng tình hơn trọng lý, trọng đức hơn trọng tài, trọng văn hơn trọng võ, trọng nghĩa hơn trọng vật.
15. Những nét đặc thù của người Việt trong giai đoạn bị người Trung Quốc đô hộ hơn một ngàn năm (111 TCN- 938) là gì?
– Giữ nguyên những nét căn bản của nền văn hoá nông nghiệp với ý thức phản kháng Trung Quốc qua việc bảo tồn tiếng nói và cách ăn mặc của mình.
– Tổ chức gia đình và xã hội có thay đổi: theo chế độ phụ hệ, trọng nam khinh nữ, cho phép có nhiều thê thiếp vì nền nông nhiệp cần nhiều nhân công, nhiều nghề nghiệp, phong tục thay đổi qua hội nhập với văn hoá Trung Quốc.
– Đón nhận chữ Hán và tam giáo Đông Phương: Nho-Phật-Lão.
– Sống khép kín, luôn có cảm xúc sợ hãi quyền lực, nghi ngờ ngay cả người thân, ít tôn trọng của công, ít chân thực trong lời nói cũng như trong hành động, làm việc cầm chừng vì phải đối phó với kẻ thù, do sống hơn 1.000 năm dưới ách nô lệ hà khắc của người Trung Quốc.
16. Những nét đặc thù của người Việt trong giai đoạn quân chủ độc lập (938-1945) là gì?
– Luôn bảo vệ nền độc lập chống lại mọi cuộc xâm lăng của Trung Quốc, Thái Lan, giữ vững nền quân chủ chuyên chế, dân tộc bị phân hoá và chia rẽ Bắc Nam.
– Gắn bó với hệ tư tưởng Nho giáo quá mức nên khó đổi mới và phát triển đất nước: vẫn trọng nam khinh nữ, đa thê, cách học từ chương theo Trung Quốc.
– Từ thế kỷ XVI, các giá trị văn hoá Công giáo, tuy chưa được cả nước đón nhận, nhưng đã làm thay đổi sâu xa dân tộc, như ý niệm về dân chủ, bình đẳng nam nữ, gia đình một vợ một chồng, mở ra cho khoa học và nhất là chữ Việt thay chữ Hán, chữ Nôm.
– Mở mang bờ cõi về phương Nam nên có những đặc tính của vùng miền: Bắc Trung Nam.
17. Những nét đặc thù của người Việt trong giai đoạn (1945- 2025) là gì?
– Đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc từ các đế quốc, xây dựng ý niệm dân chủ. Đón nhận những giá trị văn hoá của Công giáo như bình đẳng nam nữ, hôn nhân một vợ một chồng, phổ biến chữ quốc ngữ, mở ra cho khoa học.
– Xung đột giữa các hệ tư tưởng Cộng sản và Tư bản, tạo nên cuộc chiến tranh tương tàn giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1945 cho đến 30/4/1975.
– Xây dựng và phát triển đất nước thống nhất từ năm 1975 đến nay bằng giáo dục về khoa học, kỹ thuật, theo hệ tư tưởng Cộng sản, duy vật, xã hội chủ nghĩa. Từ năm 2025, chấp nhận nền kinh tế tư nhân, chấp nhận tự do tôn giáo, lấy con người làm trung tâm, lấy kinh tế là đòn bẩy, lấy khoa học làm phương tiện, quyết tâm xây dựng một đất nước văn minh, phát triển, giàu mạnh và hạnh phúc.
18. Những nét đặc thù của người Việt trong kỷ nguyên mới (2025-) là gì?
Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra những mục tiêu mới, chính sách mới, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Cụ thể là những nghị quyết của Bộ Chính trị gần đây:
– Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (ban hành ngày 22/12/2024). .
– Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (ban hành ngày 24/1/2025).
– Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (ban hành ngày 30/4/2025). .
– Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân (ban hành ngày 4/5/2025).
– Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (ban hành ngày 20/8/2025).
– Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (ban hành ngày 22/8/ 2025).
– Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân (ban hành ngày 9/9/2025).
– Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước (ban hành ngày 6/1/2026).
– Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hoá Việt Nam (ban hành ngày 07/01/ 2026).
19. Chúng ta nên phân biệt truyền giáo và truyền đạo khác nhau thế nào?
– Truyền giáo nhấn mạnh đến giáo lý và những nghi lễ phụng tự của Giáo hội Công giáo trong khi truyền đạo nhấn mạnh đến việc rao giảng con đường sự thật và sự sống của Đức Giêsu nên việc LBTM gần gũi với những tôn giáo khác.
– Truyền giáo dễ đưa người ta đến những xung đột vì nhấn mạnh đến sự khác biệt của các tôn giáo trong khi truyền đạo dễ đưa người ta đến sự hoà hợp giữa các tôn giáo vì khơi gợi những sự thật mà các tôn giáo đều nuốn đón nhận.
– Truyền giáo dễ đưa người tín hữu đến những hình thức đạo đức bên ngoài còn truyền đạo dễ đưa đến những xác tín đạo đức sâu xa.
– Nên cần phải thay đổi cách thức loan báo Tin Mừng và cả việc dùng từ ngữ như hiện nay. Ví dụ: Trong thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam tháng 10/2025 giới thiệu chủ đề 3 năm cho hoạt động LBTM, ta thấy bản văn chỉ nhắc đến từ “truyền giáo” một lần.
20. Văn kiện nào của Giáo Hội đề cập nhiều nhất đến việc hội nhập văn hoá để truyền giáo?
– Sắc lệnh của Công đồng Vaticanô II: Đến với muôn dân và hoạt động tông đồ.
* Tông huấn Giáo Hội tại châu Á của ĐGH Gioan Phaolô II.
– Tông huấn Niềm vui Tin mừng của ĐGH Phanxicô.
– Sách Tóm lược Học thuyết Xã hội Công giáo của Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hoà bình.
21. Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XIII năm 2012 nói đến đối tượng được nghe loan báo Tin Mừng là những ai?
– Từng con người và các dân tộc là đối tượng chính.
– Những người nghèo là đối tượng ưu tiên.
– Muôn loài thụ tạo gồm các người đã qua đời, các thiên thần và vạn vật quanh ta là đối tượng chung.
* Tất cả các đối tượng trên đây.
22. Thượng Hội đồng XIII mời gọi chúng ta thực hiện một cuộc Tin Mừng hoá mới: mới về nhiệt huyết, về phương pháp và về cách diễn tả (x. TLLV số 87). Vậy ta phải đổi mới thế nào để phá vỡ tình trạng bế tắc và không hiệu quả từ 1885 đến nay?
– Tăng cường ngày một hơn mối quan hệ của ta với Chúa Giêsu bằng cách sống các giá trị của Tin Mừng.
– Kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu để Người chuyển thông cho ta sức sống, quyền năng và tình yêu vô biên của Người.
– Phát huy tất cả những ân huệ của Thánh Thần để làm chứng cho Tin Mừng là Chúa Giêsu.
23.Thượng Hội đồng XIII mời gọi chúng ta thực hiện một cuộc Tin Mừng hoá mới trong lĩnh vực khoa học và giáo dục, vậy ta nghĩ mình có thể làm gì trong các lĩnh vực này như tổ tiên chúng ta đã rất thành công khi loan báo Chúa Giêsu Kitô thời trước đây?
– Giáo hội Công giáo Hàn Quốc đã cho rất nhiều linh mục, tu sĩ tham gia trong lĩnh vực khoa học và giáo dục. Họ có hàng trăm người có học vị tiến sĩ giảng dạy trong các trường đại học, hàng ngàn thầy cô giáo giảng dạy trong các trường lớp nên tạo ảnh hưởng lớn trong giới trí thức. Tổ tiên anh hùng của chúng ta cũng đã tích cực tham gia công việc giáo dục, tích cực học hỏi khoa học kỹ thuật, ví dụ như giáo xứ nào trước đây cũng có trường tiểu học, lớn hơn thì có trường trung học và cả đại học. Các linh mục ứng dụng khoa học vào đời sống như dạy dân về cách lọc nước bằng than cát sỏi, đào giếng, các nữ tu đỡ đẻ, làm thuốc Nam, dạy chữ Việt… Nhưng trong những năm gần dây, Giáo hội Công giáo Việt Nam hình như bỏ quên lĩnh vực này, nhất là khi chính quyền giữ độc quyền về giáo dục; các dòng tu cũng không còn gửi các tu sĩ đi học cao trong các lĩnh vực này nữa.
– Cần có chương trình khuyến học bằng những hình thức trợ cấp học bổng, khen thưởng những người xuất sắc qua quỹ học bổng của Hội đồng Giám mục, sự trợ giúp của ân nhân và các nhà hảo tâm.
– Cần có sự kiên định của những người lãnh đạo Giáo Hội, các bề trên của chủng viện, dòng tu hay các cộng đồng vì kinh nghiệm cho thấy khi thay đổi bề trên là kế hoạch bị thay đổi, xáo trộn, khiến cho chương trình bị dở dang và không ai muốn trợ giúp nữa.
24. Thượng Hội đồng XIII mời gọi chúng ta thực hiện một cuộc Tin Mừng hoá mới trong lĩnh vực kinh tế xã hội, vậy chúng ta có thể làm gì trong lĩnh vực này như tổ tiên chúng ta đã rất thành công khi loan báo Chúa Giêsu Kitô thời trước đây?
– Tổ tiên chúng ta đã truyền nghề cho nhau, chứ không giấu nghề, để tất cả cùng phát triển. Buôn bán chân thật, làm hàng tốt, hàng đẹp, nên ai cũng muốn giao thương. Biết đưa kỹ thuật canh tác mới, con giống mới, để tăng năng suất khiến làng Công giáo nào cũng giàu có, no đủ nên người ta mới nói: “Theo đạo lấy gạo mà ăn”.
– Biết liên kết để làm kinh tế chung với nhau, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất như Công ty Hyundai là một công ty Công giáo của Hàn Quốc. Chúng ta cần biết áp dụng khoa học vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để làm phép lạ hoá bánh ra nhiều của Chúa Giêsu trong thời đại mới!
– Xây dựng những vùng miền đặc sản để ai cũng biết đó là những hàng hoá có chất lượng cao do người Công giáo sản xuất và tương trợ giao thương lẫn nhau trong các xứ đạo như Nước Nắm Phan Thiết, Trà Bảo Lộc (Phaolô), Cà phê Thiên Ân, Cá khô Thiên Phước…
25. Thượng Hội đồng XIII mời gọi chúng ta thực hiện một cuộc Tin Mừng hoá mới trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, vậy ta nghĩ mình có thể làm gì trong các lĩnh vực này như tổ tiên chúng ta đã rất thành công khi loan báo Chúa Giêsu Kitô thời trước đây?
– Thời trước đây, các hoạt động văn hoá như hát thánh ca, dâng hoa, tuồng thương khó và nhiều sáng tác văn thơ thu hút giới trẻ và cộng đồng. Mỗi nhà thờ trước đây hay tổ chức cuộc vui thể thao như đi cầu ao trước sân nhà thờ, bắt vịt lấy thưởng… thu hút đông đảo đồng bào lương giáo, nhưng hiện nay các lĩnh vực này ít được các linh mục, tu sĩ quan tâm.
– Chúng ta có thể tận dụng không gian là các lớp học giáo lý để giúp cho các em sinh hoạt vui chơi, tập luyện các môn thể thao trong nhà hay trong sân nhà thờ, những lớp giáo dục về sức khoẻ cộng đồng…
– Uỷ ban văn hoá của Hội đồng Giám mục Việt Nam cần phải mở rộng các hoạt động hơn nữa về các lĩnh vực văn hoá, thể dục, thể thao. Chúng ta nên tổ chức các cuộc thi sáng tác văn thơ, các cuộc thi đấu thể thao giữa các giáo hạt, giáo phận… Sân nhà thờ nên để dành cho cộng đồng sinh hoạt như tập thể dục ban sáng cho các người già thay vì cho thuê làm chỗ đậu xe như vài xứ đạo đang làm…
26. Thượng Hội đồng XVI mời gọi chúng ta thực hiện một cuộc “đồng hành” để sửa lại con đường cho Chúa. Vậy người tín hữu Công giáo cần giới thiệu và thể hiện những giá trị văn hoá nào nhất cho con người thời đại hôm nay?
– Giá trị của sự thật về con người và vũ trụ qua những khám phá mới của khoa học.
– Giá trị của sự sống với phẩm giá vô cùng cao quý của con người.
– Giá trị của tình yêu cao quý bắt nguồn từ Thiên Chúa để vượt qua những đòi hỏi của bản năng và tình dục.
* Giá trị của nguồn mọi hiện hữu là Thiên Chúa Ba Ngôi để sống xứng đáng là con cái của Ngài.
Lời kết
Chúng con cảm tạ Chúa vì đã kêu gọi, chọn lựa và sai chúng con đi loan báo Tin Mừng cứu độ. Xin cho chúng con biết gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu và thể hiện bài học hoà nhập của Người vào nền văn hoá thế giới này. Amen.