Bài 7. Phục hồi sức khoẻ toàn diện cho con người
Tuần thường huấn cho linh mục Giáo phận Hưng Hoá, Thứ Năm, 16/4/2026
Tuần thường huấn cho linh mục Giáo phận Hưng Hoá,
Bài 7, Thứ Năm, 16/4/2026
Phục hồi sức khoẻ toàn diện cho con người
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
Chúng ta là những môn thành viên trong Đoàn Môn đệ Thừa sai của Chúa Giêsu Kitô theo Người đi loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người, nhất là những người nghèo khổ, đau yếu, tật bệnh trong cộng đồng xã hội. Chúng ta rất cần có sức khoẻ để phục vụ họ. Nhưng trong đời sống, chính sức khoẻ của ta đã bị suy yếu và nhiều người bệnh quanh ta cũng muốn phục hồi sức khoẻ của họ nhưng không biết phải làm sao.
Người ta có thể tìm đến các bác sĩ, chuyên gia để tư vấn về sức khoẻ, tìm đến các phòng khám hay bệnh viện để chữa trị bệnh tật, nếu có đủ phương tiện. Nhưng nhiều người lại quá nghèo trong khi ta lại được Chúa sai đi để chữa lành bệnh nhân. Vì thế, vài chỉ dẫn sau đây hy vọng có thể giúp ta phục vụ họ trong đời sống thường ngày trước khi tìm đến các nhà chuyên môn.
1. Sức khoẻ toàn diện của con người
Trong bài trước, chúng ta đã tìm hiểu “Một sức khoẻ toàn diện cho cá nhân và cộng đồng”. Chúng ta biết rằng con người là một thực thể phức tạp, vô cùng kỳ diệu với thể xác và tinh thần. Do đó sức khoẻ toàn diện gồm 4 yếu tố: thể chất, tâm thần, tâm lý và tâm linh. Đây là xu hướng điều trị mới của các nước tiên tiến. Nhưng ở Việt Nam nhiều bác sĩ cũng như bệnh viện thường chú trọng đến tình trạng thể chất, ít quan tâm đến các yếu tố khác.
Nhiều bác sĩ hiện nay chỉ chữa triệu chứng, nhưng ít đi tìm nguyên nhân của bệnh tật. Người ta lạm dụng việc dùng thuốc và căn cứ vào các xét nghiệm mà không chú ý đến khả năng tự hồi phục và tự chữa lành của con người. Nhiều bác sĩ quên rằng dịch Covid-19 đã khiến hơn 5,6 tỉ người phải tiêm vaccine phòng ngừa, mỗi người thường phải tiêm 2 hay 3 lần.
Khi đưa hàng tỉ con virus được làm suy yếu qua vaccine vào cơ thể để các bạch cầu chiến đấu chống lại chúng và tạo nên hệ miễn dịch cho cơ thể, thì các hạch bạch huyết phải nở lớn để sản xuất ra thật nhanh và thật nhiều cho đủ bạch cầu. Do tiêm liên tục vài lần, hơn nữa còn phải chống lại virus xâm nhập do nhiễm bệnh, các hạch này không còn co lại được như những khi ta bị vết thương thông thường.
Vì thế, ngoài nguyên nhân do mỡ máu và stress, các hạch bạch huyết nở to này chặn các mạch máu và gây tắc nghẽn các đường dây thần kinh trong cơ thể. Các hạch bạch huyết đầy ở cổ khiến ta thiếu máu não, giảm trí nhớ, khó tập trung, thiếu lệnh thần kinh phát đi khắp nơi, dẫn đến suy yếu cơ thể và các bệnh tâm thần. Các hạch bạch huyết ở nách và khuỷu tay chặn máu nuôi tay khiến tay cử động khó khăn, tê bì tay và hiện tượng cò súng ở các ngón tay. Các hạch bạch huyết ở háng và đầu gối chặn máu đỏ xuống chân khiến chân bị lạnh, đi đứng khó khăn, đau nhức và chặn máu đen về tim khiến dãn tĩnh mạch… (Các hình ảnh sau đây cho ta thấy các hạch bạch huyết màu xanh có thể ảnh hưởng đến mạch máu và hệ thần kinh trong các phần cơ thể).
Chúng ta biết rằng bệnh tật hay sức khoẻ bắt nguồn từ 5 nguyên nhân chính. Thứ nhất là do người ta không cung cấp đủ chất bổ dưỡng cho cơ thể qua việc ăn uống, nhất là hít thở đủ Oxy để chuyển hoá máu đen thành máu đỏ. Thứ hai là nếp sinh hoạt như học hành, làm việc, nghỉ ngơi, giải trí, vận động thể dục, thể thao không điều độ. Thứ ba là do nhiễm trùng với đủ loại vi trùng, vi khuẩn, virus trong môi trường ô nhiễm hiện nay. Thứ tư là do các tai nạn gây ra khiến thân thể bị tổn thương. Thứ năm là do tuổi già, cơ thể và các cơ quan mỗi ngày một suy yếu.
Quả thật, 90% người Việt Nam thở không đủ tiêu chuẩn. Nếu thở đủ Oxy ta sẽ rất khoẻ mạnh, thông minh. Chúng ta rất cần phục hồi sức khoẻ toàn diện con người để tìm lại niềm vui, bình an, hạnh phúc trong đời sống. Hai nguyên nhân đầu hoàn toàn tuỳ thuộc vào cá nhân mỗi người để cải thiện sức khoẻ. Nhưng phục hồi bằng cách nào?
2. Những chỉ số sức khoẻ thông thường
Việc đầu tiên là ghi nhận những chỉ số sức khoẻ thông thường của mình hay của bệnh nhân, sau đó mới đến việc chữa trị bệnh tật.
Nhiều người không biết hay không nhớ những dữ liệu cần thiết như chiều cao, trọng lượng, huyết áp, nhịp tim, dung tích khí thở trong phổi, nồng độ Oxy trong máu của mình… liên quan đến sức khoẻ. Rất nhiều bệnh nhân do th không đủ khí, do nhịp tim quá nhanh, do áp huyết quá cao, do các hạch bạch huyết chèn ép… dẫn đến sức khoẻ yếu kém. Vì thế chúng ta nên biết các chỉ số sức khoẻ thông thường và các số đo của chúng.
– Chiều cao và trọng lượng. Giá trị cân nặng tuyệt đối không có nhiều ý nghĩa để đánh giá và so sánh tình trạng sức khoẻ của mỗi người. Theo tổng điều tra dinh dưỡng của Bộ Y tế Việt Nam cũng như căn cứ vào các chỉ số của WHO (World Health Organisation: Tổ chức Sức khoẻ Thế giới), chúng ta có thể tìm ra các chỉ số chiều cao và cân nặng của nam, nữ, và các trẻ em, gọi là BMI (Body Mass Index) (x. https://nutrihome.vn/chieu-cao-can-nang-chuan-cua-nam/nữ).
Đối với người lớn từ 18 tuổi trở lên, để dễ nhớ, ta chỉ cần lấy số chiều cao tính theo centimet trừ cho hằng số 100 cho nam hoặc 110 cho nữ sẽ ra số cân nặng trung bình tính theo kilô. Ta cộng thêm số cân được phép là cộng hay trừ 5 kg là ra kết quả trọng lượng nên có hoặc nên thay đổi. Nhờ biết chỉ số cân nặng ta có thể cho họ lời khuyên về chế độ dinh dưỡng để khoẻ hơn hay tập thể dục, chơi thể thao cho bớt béo phì.
Đối với nam: (Chiều cao cm) – 100 = (trọng lượng kg) + (-/+5).
Đối với nữ: (Chiều cao cm) – 110 = (trọng lượng kg) + (-/+5).
Ví dụ. Nam cao 165 cm -100 = 65 kg + 5 = 70 kg hay 65 – 5 = 60 kg.
Nữ cao 157 cm -110 = 47 kg + 5 = 52 kg hay 47 – 5 = 42 kg.
– Huyết áp. Chúng ta có 2 chỉ số huyết áp là tâm thu và tâm trương. Huyết áp tâm thu là khi tim co lại để đẩy máu đỏ đi các nơi và tâm trương là tim nở to để kéo máu đen về tim rồi chuyển đến buồng phổi. Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành động mạch để đưa máu đi nuôi cơ thể, tạo ra bởi lực co bóp của tim và sức cản mạch máu. Ở người trưởng thành khoẻ mạnh, huyết áp bình thường lý tưởng nhất là dưới 120/80 mmHg và thường dao động trong khoảng 90/60 mmHg đến 120/80 mmHg.
* Chúng ta nên học cách đo huyết áp để đo cho mình và cho người khác. Có nhiều loại máy đo có thể giúp ta đo huyết áp chính xác và đơn giản. Mỗi giáo xứ hay cộng đồng nên có một vài máy đo huyết áp để phục vụ sức khoẻ. Nên đo vào những thời điểm nhất định để có thể so sánh đúng chỉ số này. Thời điểm tốt là lúc mới thức dậy sau giấc ngủ đêm hay ngủ trưa.
* Chúng ta cũng cần lưu ý một số yếu tố sinh lý và yếu tố bệnh lý có thể ảnh hưởng đến huyết áp bao gồm: Độ tuổi: Huyết áp thường tăng theo tuổi do động mạch cứng lại, làm tăng sức cản mạch máu, đặc biệt là sau 40 tuổi. Giới tính: Nam giới (120/80) thường có chỉ số huyết áp cao hơn nữ giới (115/75) cho đến khi nữ giới bước vào giai đoạn mãn kinh, lúc này huyết áp của nữ có thể tăng cao hơn. Cân nặng và béo phì: Người thừa cân hoặc béo phì có nguy cơ cao bị tăng huyết áp do lượng máu cần bơm đi lớn hơn, làm tăng áp lực lên thành động mạch.
* Chế độ dinh dưỡng: như ăn thiếu hoặc thừa muối (natri), chất béo có thể làm tăng huyết áp. Hoạt động thể chất: Thiếu vận động làm tăng nguy cơ béo phì và tăng huyết áp. Ngược lại, tập thể dục thường xuyên giúp duy trì huyết áp ổn định. Stress: Căng thẳng kéo dài có thể kích thích hệ thần kinh giao cảm, làm tăng nhịp tim và huyết áp. Những người stress thường có xu hướng ăn uống không lành mạnh hoặc hút thuốc, làm chỉ số huyết áp tăng thêm. Sử dụng rượu và cafein: cũng có thể tạm thời làm tăng huyết áp. Thói quen hút thuốc lá: Nicotine trong thuốc lá làm co thắt mạch máu, làm tăng áp lực lên thành mạch và dẫn đến tăng huyết áp.
* Di truyền: gia đình có tiền sử tăng huyết áp có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Bệnh lý đi kèm: một số bệnh lý như tiểu đường, bệnh thận mãn tính, hoặc các rối loạn nội tiết có thể ảnh hưởng đến huyết áp. Thuốc: một số loại thuốc, như thuốc tránh thai, thuốc giảm đau, thuốc thông mũi và corticosteroid, có thể làm tăng huyết áp.
– Mạch hay nhịp tim trong một phút. Nhịp tim (BPM=Beats Per Minute) là một trong các chỉ số quan trọng giúp bác sĩ chẩn đoán được các bất thường trong cơ thể. Nhịp tim tăng cao hay giảm xuống đột ngột có thể là dấu hiệu nhận biết các bệnh lý nguy hiểm mà cơ thể đang mắc phải. Nhịp tim được hiểu là số lần tim đập trong một phút. Trong quá trình đó tim sẽ đưa máu có chứa oxy đi tới các cơ quan trong cơ thể qua động mạch và vận chuyển máu thiếu oxy trở lại phổi qua tĩnh mạch. Nhịp tim của người bình thường sẽ thay đổi trong quá trình vận động căng thẳng, nghỉ ngơi, ốm đau, tuổi tác.
Chỉ số nhịp tim. Trong các máy đo huyết áp, ta thường thấy xuất hiện chỉ số này. Tuy nhiên, nhiều người không quan tâm đến vì thấy chỉ số này thay đổi luôn và cách nhau rất xa. Chỉ cần đi lên ít bậc thang, leo vài tầng cao ốc, chạy vội hay đi nhanh vài bước là chỉ số này thay đổi. Vì thế ta nên đo vào những thời điểm nhất định như đo huyết áp. Chỉ số này càng quan trọng hơn khi ta biết tính theo dung lượng khí thở để tìm ra múc độ sức khoẻ.
Một người trưởng thành bình thường có chỉ số nhịp tim dao động trong khoảng 60-90 lần mỗi phút. Lúc nghỉ ngơi, nhịp tim của những người vận động viên thể lực, người thường xuyên làm việc tay chân và hoạt động thể lực thường ở mức 60-70 lần/phút. Nhịp tim của trẻ em có thể lên tới 200 lần/phút. Trẻ sơ sinh có nhịp tim cao nhất và các chỉ số nhịp tim giảm dần theo độ tuổi. Người già có chỉ số nhịp tim thấp do ít vận động, nhiệt độ, cảm xúc và sự lão hóa của cơ thể. Những người trên 65 tuổi có nhịp tim trung bình khoảng 60-75 lần/phút.
– Nồng độ oxy trong máu (thường gọi là SpO2- Saturation of peripheral oxygen – độ bão hòa oxy máu ngoại vi) là chỉ số đo lường tỷ lệ hemoglobin (Hb) đã liên kết với oxy so với tổng lượng hemoglobin trong máu, phản ánh khả năng phân phối oxy từ phổi đến các tế bào. Đây là dấu hiệu sinh tồn quan trọng, đảm bảo các mô và cơ quan hoạt động bình thường. Việc đo nồng độ oxy thường được thực hiện bằng máy đo SpO2 kẹp ngón tay một cách nhanh chóng và không xâm lấn.
Chỉ số nồng độ oxy trong máu (SpO2) bình thường: Mức tốt: 97 – 99%. Mức trung bình: 94 – 96%. Mức thấp/Cảnh báo: 90 – 93% (cần xin ý kiến bác sĩ). Mức nguy hiểm: dưới 90% (cấp cứu khẩn cấp). Chúng ta có thể xoa phần xương ức vừa xoa vừa hít vào thở ra mạnh cũng sẽ tăng chỉ số này.
– Dung tích khí thở
Chúng ta đo dung tích khí thở thực tế bằng dụng cụ spirometer. Đây là số đo mà hầu hết các bác sĩ trên thế giới, chứ không riêng gì ở Việt Nam, thường không chú ý, nhưng đó là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh tật.
Người ta thường chỉ chú ý đến đồ ăn. Một ngày không ăn là ta đói cồn cào, nhưng ta có thể nhịn ăn tới 20, 30 ngày mà chưa chết. Mỗi ngày ta thở tối thiểu khoảng 10.000 lít không khí trong khi chỉ cần 1,5 kg lương thực. Bộ não của ta sẽ chết trong vòng 4 phút nếu không cung cấp đủ khí Oxy cho nó. Chỉ cần 1 vòng quay máu trong khoảng 1 giây mà không thở đủ Oxy là ta có thể choáng váng, té ngã, rồi gây thương tích cho mình và tai nạn cho người khác.
Buồng phổi của người lớn có dung tích trung bình khoảng 5000-5800 ml. Đây là tổng thể tích các thể khí trong phổi (TLC-total lung capacity) bao gồm TV+IRV+ERV+RV. Còn thể tích tối đa huy động được gọi là dung tích sống (VC-vital capacity) bao gồm TV+IRV+ERV phụ thuộc vào điều kiện của mỗi cá nhân cụ thể hít thở như thế nào.
Chúng ta nên phân biệt một số từ ngữ liên quan về khí thở. Trước hết là thể tích khí lưu thông, gọi là TV (Tidal Volume). Số đo này giúp ước lượng thể tích khí lưu thông mỗi lần thở ra hít vào (khoảng 500ml). Thể tích khí dự trữ hít vào trong phổi gọi là IRV (Inspiratory Reserve Volume) (khoảng 1500-2000ml/lần), thể tích khí thở ra, gọi là ERV (Expiratory Reserve Volume) (khoảng 1100-1500ml/lần), và thể tích khí cặn RV luôn giữ trong phổi đề phòng các trường hợp ngạt khí (Residual Volume) khoảng 1000-1200ml.
Dung tích thở thực tế SV (Spirometer Volume) đo bằng dụng cụ Spirometer giúp ước lượng TV+IRV. Nó gần bằng với dung lượng khí hít vào IC (Inspiratory Capacity) thể hiện khả năng hô hấp thích ứng với nhu cầu cung cấp Oxy tăng lên của cơ thể. Bình thường khoảng 2000-2500ml. Hầu hết người Việt Nam có dung tích thở thực tế khoảng 1000-2000 ml. Nhiều bệnh nhân còn thở thấp hơn dưới 1.000ml.
Việc đo dung tích thở thực tế SV rất đơn giản. Sau khi vệ sinh đầu ống thở bằng Cồn 90 độ, chỉ cần ngậm vòi thở bằng miệng, rồi vừa hút vào vừa quan sát piston trong ống đo đẩy lên tới vạch nào. Cần hút vào từ từ bằng một hơi dài tự nhiên, không phải cố gắng hết sức. Ngắt hơi ở điểm nào thì đó là mức đo khí thở tại điểm đó. Sau đó, so sánh với Bảng Tiêu chuẩn Dung tích Dự đoán Khí thở SSV (Standard Spirometer Volume) theo giới tính, độ tuổi, chiều cao thực tế, ta sẽ tìm ra dung lượng khí thở cần thiết. Sau khi dùng, ta tẩy sạch ống thở bằng cồn 90 độ.
Bảng Tiêu chuẩn Dung tích Dự đoán khí thở
Bảng dành cho nữ
| Chiều cao
Tuổi |
1,47 | 1,52 | 1,57 | 1,62 | 1,67 | 1,72 | 1,77 | 1,82 | 1,87 |
| 20 | 1900 | 2100 | 2300 | 2500 | 2700 | 2900 | 3100 | 3300 | 3500 |
| 25 | 1850 | 2050 | 2250 | 2450 | 2650 | 2850 | 3050 | 3250 | 3450 |
| 30 | 1800 | 2000 | 2200 | 2400 | 2600 | 2800 | 3000 | 3200 | 3400 |
| 35 | 1750 | 1950 | 2150 | 2350 | 2550 | 2750 | 2950 | 3150 | 3350 |
| 40 | 1700 | 1900 | 2100 | 2300 | 2500 | 2700 | 2900 | 3100 | 3300 |
| 45 | 1650 | 1850 | 2050 | 2250 | 2450 | 2650 | 2850 | 3050 | 3250 |
| 50 | 1600 | 1800 | 2000 | 2200 | 2400 | 2600 | 2800 | 3000 | 3200 |
| 55 | 1550 | 1750 | 1950 | 2150 | 2350 | 2550 | 2750 | 2950 | 3150 |
| 60 | 1500 | 1700 | 1900 | 2100 | 2300 | 2500 | 2700 | 2900 | 3100 |
| 65 | 1450 | 1650 | 1850 | 2050 | 2250 | 2450 | 2650 | 2850 | 3050 |
| 70 | 1400 | 1600 | 1800 | 2000 | 2200 | 2400 | 2600 | 2800 | 3000 |
| 75 | 1350 | 1550 | 1750 | 1950 | 2150 | 2350 | 2550 | 2750 | 2950 |
| 80 | 1300 | 1500 | 1700 | 1900 | 2100 | 2300 | 2500 | 2700 | 2900 |
Bảng dành cho nam
|
Chiều cao Tuổi |
1,47 | 1,52 | 1,57 | 1,62 | 1,67 | 1,72 | 1,77 | 1,82 | 1,87 | 1,92 | 1,97 |
| 20 | 2000 | 2200 | 2400 | 2600 | 2800 | 3000 | 3200 | 3400 | 3600 | 3800 | 4000 |
| 25 | 1950 | 2150 | 2350 | 2550 | 2750 | 2950 | 3150 | 3350 | 3550 | 3750 | 3950 |
| 30 | 1900 | 2100 | 2300 | 2500 | 2700 | 2900 | 3100 | 3300 | 3500 | 3700 | 3900 |
| 35 | 1800 | 2000 | 2200 | 2400 | 2600 | 2800 | 3000 | 3200 | 3400 | 3600 | 3800 |
| 40 | 1750 | 1950 | 2150 | 2350 | 2550 | 2750 | 2950 | 3150 | 3350 | 3550 | 3750 |
| 45 | 1700 | 1900 | 2100 | 2300 | 2500 | 2700 | 2900 | 3100 | 3300 | 3500 | 3700 |
| 50 | 1650 | 1850 | 2050 | 2250 | 2450 | 2650 | 2850 | 3050 | 3250 | 3450 | 3650 |
| 55 | 1550 | 1750 | 1950 | 2150 | 2350 | 2550 | 2750 | 2950 | 3150 | 3350 | 3550 |
| 60 | 1500 | 1700 | 1900 | 2100 | 2300 | 2500 | 2700 | 2900 | 3100 | 3300 | 3500 |
| 65 | 1400 | 1600 | 1800 | 2000 | 2200 | 2400 | 2600 | 2800 | 3000 | 3200 | 3400 |
| 70 | 1350 | 1550 | 1750 | 1950 | 2150 | 2350 | 2550 | 2750 | 2950 | 3150 | 3350 |
| 75 | 1300 | 1500 | 1700 | 1900 | 2100 | 2300 | 2500 | 2700 | 2900 | 3100 | 3300 |
| 80 | 1250 | 1450 | 1650 | 1850 | 2050 | 2250 | 2450 | 2650 | 2850 | 3050 | 3250 |
(Bảng Dung tích Dự đoán Khí thở do G.Polgar và V. Promadhat công bố trên tạp chí của Hiệp hội Thân ngực Mỹ, th. 9/1979, bộ 122, số 3)
Nhiều bác sĩ chưa liên kết được số đo của dung tích thở với mạch đập của tim. Nếu bệnh nhân thở quá yếu, trong khi mạch quá nhanh, quá 80 lần/phút trở lên trong độ tuổi 20-50, quá 70 lần/ phút trong độ tuổi 60-70, quá 65 lần/ phút trong độ tuổi 70-80, sức khoẻ bệnh nhân sẽ không tốt. Họ có thể có nhiều triệu chứng như khó ngủ, tâm trí khó tập trung, mau quên, rối loạn lo âu, rối loạn cảm xúc, các chứng tâm thần khác, nhất là sau khi chích nhiều lần vaccine ngừa Covid-19.
Chúng tôi đã giúp cho hàng ngàn người bệnh và nhận thấy rằng thiếu máu não và thiếu Oxy trong máu là những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh tật. Chúng tôi thấy hàng trăm bệnh nhân tâm thần và người tự kỷ cỏ nhịp tim trên 90lần/phút. Điều này khiến họ không làm chủ được tinh thần của mình, các dữ liệu trong bộ nhớ bị xáo trộn dẫn đến hoang tưởng, trầm cảm và các bệnh tâm thần.
Công thức để tìm ra mức độ thiếu Oxy (C). Công thức: A – B = C. A là số lượng khí thở cần thiết cho mỗi vòng quay máu, ta tính ra số này bằng cách lấy số dung tích thở tiêu chuẩn (SSV), nhân với số lần thở thực tế mỗi phút, rồi chia cho số mạch đập nên có của bệnh nhân. B là số lượng khí thực tế mỗi vòng quay máu, ta tính ra số này bằng cách lấy dung tích khí thở thực tế của bệnh nhân (SV), nhân với số lần thở thực tế trong một phút, rồi chia cho số mạch đập thực tế. Cuối cùng, ta lấy định lượng A trừ đi B ta sẽ biết C là mức độ thiếu Oxy trong mỗi vòng quay máu.
Ví dụ cụ thể. Một bệnh nhân nữ 35 tuổi; cao 1,55m, nặng 47kg, bị rối loạn tâm thần. Huyết áp 134/81mm Hg; mạch 93lần /phút, mạch chị nên có là 70lần/ phút, dung tích thở SV thực tế 1.000ml đo theo máy spirometer; dung tích cần có SSV là 2.150ml theo Bảng Tiêu Chuẩn. Tính theo công thức: A-B=C.
A (2150ml x 16 lần)/70 – B (1000ml x 16 lần)/93 = C (491-172) = 319ml.
Chị thiếu máu não và thiếu Oxy trong máu não trầm trọng không phải do chứng tắc mạch máu não, cao lipid nhưng là do các hạch bạch huyết nở to chặn máu từ cổ lên não vì chị chích vaccine Covid-19 đến 4 lần, và thiếu Oxy trong máu do thở kém. Vì thế, các dữ liệu trong bộ nhớ của chị bị xáo trộn, chị rơi vào tình trạng lo âu, khóc cười bất thường, có tình trạng ảo giác, ảo tưởng, ảo thanh. Sau khi dạy cho chị cách thở để nâng cao dung lượng khí thở, tự xoa vùng đầu cổ gáy để dẫn máu lên não, tự xoa vùng tim phổi để hạ nhịp tim, sức khoẻ chị đã cải thiện rõ rệt. Chị trở lại tình trạng bình thường.
3. Những phương cách phục hồi thông thường
– Tập lại cách thở: Chúng tôi đã nói qua về cách thở trong Bài 5, đã bàn về cách thở trong 2 cuốn sách: cuốn Hội nhập Văn hoá Công giáo ở Việt Nam, tr. 141-157 và cuốn Hội nhập Văn hoá để Loan báo Tin Mừng, tr. 180. Chúng tôi cũng giải thích và chỉ dẫn cách thở thông thường tự nhiên 2 thì: hít vào bằng mũi và thở ra bằng miệng thay vì hít vào và thở ra bằng mũi của một số người tập theo trường phái Yoga.
Để tăng cường dung lượng khí thở, chúng tôi đề nghị cách thở 4 thì sau đây. Chúng ta biết buồng phổi có khoảng 500 triệu túi chứa khí, gọi là phế nang. Đa số chúng giống như các bong bóng cao su đang bị lép vì thiếu khí. Để các phế nang lép đó nở to đón nhận khí, trước hết ta hít vào bằng mũi từ từ, nhưng thay vì thở ra ngay, ta nén lại một hai giây và đếm thầm trong trí 1-2-3-4, sau đó mới thở hết ra bằng miệng.
Khi nén lại như thế, luồng khí giữ lại sẽ tác động vào các phế nang đang lép từ trung tâm cuống phổi lan dần xuống các tầng thấp hơn để chúng nở to đón nhận khí. Nhưng khi nén lại như thế, áp suất trong buồng phổi hơi tăng lên một chút, khiến ta khó chịu. Sau khi thở hết ra, ta cũng không hít vào ngay mà lại ngưng một hai giây và đếm thầm 1-2-3-4. Lần ngưng này là để tạo lại áp suất cân bằng, tránh áp lực lên tim và phổi qua việc nén lại lúc trước. Nếu luyện tập thở mỗi ngày, lượng khí thở sẽ tăng lên.
Ta tập cách thở này mỗi ngày chừng 5 phút, có thể sáng chiều, trong vòng 2 tuần. Sau đó ta có thể tăng từ 4 nhịp nén lại và ngưng lên thành 5. Một hay hai tuần sau, ta có thể tăng thành 6 nhịp và tiếp theo lên cao hơn thành 7 đến 10. Tuy nhiên, việc nén và ngưng ở thì II và thì IV này nên thận trọng để tránh thương tổn, không nên cố gắng quá sức, nhất là những người có bệnh lý tim mạch, não, hô hấp. Đây cũng là một cách tập cho các ca sĩ muốn luyện thanh nhạc để có thể ngân dài tiếng hát của mình.
– Tự xoa vùng đầu cổ gáy: chúng ta biết 3 mạch máu ngoại biên chính ở đầu và cổ dẫn máu vào não bị các hạch bạch huyết nở to chặn lại nên thiếu máu não. Ta có thể dùng các ngón tay hay bàn tay để xoa nhẹ các vùng đầu cổ gáy cho máu lưu thông, bóp nhẹ vùng cổ và xoa bóp lên tới đỉnh đầu là vỏ não thần kinh vận động cho máu lưu thông tốt. Việc này sẽ giúp cho các hoạt động của mắt tai mũi họng và các hệ thần kinh ở đầu như vỏ não thị giác, thính giác, ngôn ngữ, cảm xúc, tổng hợp hoạt động tốt.
– Tự xoa vùng tim phổi: ở vùng ngực, chỗ xương ức của ta, có những huyệt đạo tác động đến tim và phổi. Ta có thể dùng bàn tay day nhẹ vùng đó, vừa day vừa hít thở dài hơi trong khoảng 5 phút để điều chỉnh hoạt động của tim và phổi, ta sẽ cảm thấy mình thở nhẹ nhàng không bị hụt hơi và ép tim, tránh được trạng thái “bị bóng đè” lúc ngủ. Huyết áp cũng sẽ tự điều chỉnh theo nhịp tim và khí thở.
Ta có thể kiểm chứng bằng cách dùng máy đo huyết áp để so sánh trước và sau khi xoa vùng tim phổi. Ta cũng có thể kiểm chứng bằng máy đo nhịp tim và nồng độ Oxy (pulse-oxymeter). Nhiều người sẽ rất ngạc nhiên vì chỉ trong vài phút tập thở, xoa các vùng tim phổi và điều chỉnh nhịp tim, chúng ta đã cải thiện các chỉ số huyết áp, nồng độ Oxy, nhịp tim của mình mà không cần dùng một viên thuốc nào.
– Tự xoa vùng điều chỉnh nhịp tim: ở dưới đầu vú trái khoảng 1,5cm, có điểm điều chỉnh nhịp tim, chúng ta có thể tìm điểm này bằng cách ấn nhẹ ngón tay, nếu cảm thấy đau là đúng. Chúng ta day nhẹ bằng ngón tay, vừa day vừa thở hít dài hơi trong vòng 2-5 phút, ta sẽ thấy nhịp tim chậm lại mà không cần phải dùng thuốc.
– Tự xoa các vùng hạch bạch huyết ở nách, bẹn, gối: chúng ta có thể tự xoa các vùng có nhiều hạch bạch huyết tụ lại và ngăn chặn sự lưu thông của mạch máu để cho việc cử động tay chân được dễ dàng hơn, giảm đau nhức, tránh bị dãn tĩnh mạch.
– Điều chỉnh các dây thần kinh dọc theo các đốt sống từ cổ xuống tới xương cùng. Các đường dây này có thể bị chèn do bị thoát vị đĩa đệm ở các đốt sống. Việc này ta không thể tự mình làm được nhưng phải nhờ các chuyên viên cơ xương khớp hay người thân biết điều chỉnh. Đây là việc các bác sĩ khám tổng quát chỉ định yêu cầu vật lý trị liệu của khâu Cơ Xương Khớp cho các bệnh nhân trong “Giấy khám sức khoẻ”. Chúng tôi cũng đã trình bày việc điều chỉnh này bằng xoa nắn trong bài 7 của cuốn Hội nhập Văn hoá để Loan báo Tin Mừng từ tr. 206-221.
Các đĩa đệm dọc theo cột sống từ cổ đến xương cùng đều có các dây thần kinh toả ra hai bên dẫn lệnh truyền từ não xuống tất cả các cơ quan trong cơ thể. Nếu đĩa đệm ngăn các đốt sống trệch ra khỏi vị trí đúng của nó, chèn vào dây thần kinh, nó sẽ cản lệnh thần kinh đến cơ quan, khiến cho cơ quan ấy hoạt động kém hiệu quả hay tê liệt.
Nhiều bác sĩ nghe bệnh nhân kể các triệu chứng như ăn không tiêu, trào ngược dạ dày, loạn nhịp tim, đau gan thận, không làm chủ được tiểu tiện… đã vội kê toa thuốc chữa dạ dày, tim, gan, thận mà không ngờ rằng bệnh nhân có các triệu chứng đó là do bị tai nạn, té ngã, vác nặng, bước hụt chân… dẫn đến thoát vị đĩa đệm. Ta chỉ cần điều chỉnh đưa đĩa đệm vào đúng vị trí qua việc ấn các đĩa đệm tương ứng là có thể khỏi các triệu chứng đó.
Ví dụ phổi có tới 14 đường dây thần kinh từ não xuống qua 10 đĩa đệm, tim có 16 đường dây thần kinh với 12 đĩa đệm, dạ dày có 10 đường dây thần kinh với 5 đĩa đệm. Như thế chúng ta thấy rằng các chuyên viên cơ xương khớp có thể chữa được rất nhiều bệnh nếu biết chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên, nhiều chuyên viên chỉ xoa bóp thư giãn chứ không biết mình có thể dùng xoa bóp để chữa bệnh, còn các bác sĩ thường chỉ nghe kể bệnh và kê đơn thuốc theo triệu chứng!
Nhiều bệnh nhân than phiền mình bị suy nhược, mất ngủ, và được bác sĩ kê toa thuốc an thần, thuốc ngủ mà không ngờ rằng việc mất ngủ là do cơ thể tự bảo vệ để mình không bị lịm dần và chết ngạt khi ngủ do thở kém, thiếu máu lên não và thiếu Oxy ở não Lượng khí thở khi ngủ kém hơn lúc thức khoảng ¼ vì khi thức người lớn thở khoảng 16-20 lần trong một phút, còn khi ngủ thở khoảng 12- 16 lần. Do đó, ta thường cảm thấy ngạt thở về đêm. Chỉ cần bệnh nhân tập thở và tự xoa bóp các mạch máu não là có thể khỏi bệnh và bộ não không bị hại vì những chất thuốc an thần.
Để chữa các triệu chứng thoát vị đĩa đệm ở các đốt sống thắt lưng hoặc cổ, y học Tây phương rất ngại xoa bóp và nắn chỉnh trên thân thể bệnh nhân mà thường cố định cột sống ở vị trí trung tính và ổn định để đĩa đệm trở lại vị trí bình thường và tự hồi phục. Những chuyên viên cơ xương khớp có thể kiểm tra xem cột sống có thẳng hay bị cong, đĩa đệm lồi ra trước hay sau, sang bên phải hay trái.
Sau khi làm nóng bằng cách xoa bóp các vùng cơ lưng, cơ mông, ta dùng bàn tay đẩy nhẹ dọc theo cột sống để tạo khoảng cách giữa các đốt sống và đĩa đệm. Ta có thể dùng bàn tay ấn nhẹ cho các đĩa đệm trồi lên hay thụt xuống vào đúng vị trí hay dùng mấy ngón tay để đẩy lại các đĩa đệm lồi sang phải hay sang trái vào lại vị trí. Đối với một vài trường hợp cột sống lưng bị cong, ta có thể giúp bệnh nhân điều chỉnh cho thẳng bằng cách xoa bóp, kéo dãn các cơ trên lưng, dưới mông cho cân bằng lại. Các cơ này sẽ kéo lại cột sống cho thẳng. Ta cũng cần khuyên bệnh nhân khi ngủ nên nằm thẳng thay vì nằm cong.
Một số bệnh nhân than phiền hay đau lưng, đau cổ tay, đau cổ vai gáy là do nghề nghiệp, ví dụ như việc đặt màn hình vi tính quá cao hay quá thấp, hoặc chéo sang một bên, dành khoảng trống trước mặt để tiếp khách hàng. Họ cần điều chỉnh điểm gặp nhau của 2 đường chéo màn hình phải nằm vào đúng điểm giữa 2 mắt của họ, điều chỉnh ghế ngồi sao cho ngang tầm với màn hình để khỏi cúi xuống gây đau lưng.
Bàn phím khi ngồi đánh máy phải nằm thẳng ngang với bàn tay và cổ tay, trong khi khuỷu tay và cánh tay tạo một góc 90 độ thì cổ tay mới không đau khi phải đánh máy lâu giờ. Do đó phải điều chỉnh các ghế ngồi, bàn đặt máy so với màn hình và bàn phím cho các nhân viên văn phòng.
Điều chúng tôi muốn lưu ý các chuyên viên cơ xương khớp khi chữa các bệnh nhân là hãy tập cho họ vận động từ từ để tự chữa lành lâu dài, thay vì nắm cổ, cầm chân bệnh nhân giật thật mạnh để kéo dãn cơ và các dây thần kinh một cách nhanh chóng. Việc này có thể gây thương tổn cho bệnh nhân. Việc bệnh nhân tự tập sẽ thúc đẩy toàn bộ các hệ thống trong cơ thể hoạt động và giúp cho nhiều bệnh tật được chữa lành thay vì các chuyên viên cơ xương khớp chỉ tác động lên phần cơ thể bên ngoài để giảm đau nhức nhất thời.
Chúng tôi cũng đã chỉ dẫn các bài tập trong bài 7 của cuốn Hội nhập Văn hoá để Loan báo Tin Mừng hay bài 22: “Chơi cho Khoẻ và Đẹp” trong cuốn Hội nhập Văn hoá Công giáo ở Việt Nam (x. NXB Tôn Giáo, tái bản năm 2024, tr. 410-429).
Lời kết
Những kiến thức về sức khoẻ này sẽ giúp chúng ta, những môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô, thực hiện sứ mệnh “chữa lành bệnh nhân” như lòng Chúa mong ước (x. Mt 10,1.8).