Bài 9. Chứng nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh
Tuần thường huấn cho linh mục Giáo phận Hưng Hoá, Thứ Năm, 16/4/2026
Tuần thường huấn cho linh mục Giáo phận Hưng Hoá,
Bài 9, Thứ Năm, 16/4/2026
Chứng nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
Lời mở
Danh hiệu cao quý nhất của người môn đệ thừa sai là “chứng nhân của Chúa Giêsu Phục Sinh”. Cuộc sống lại của Chúa Giêsu không phải là việc trở lại với cuộc sống trần thế như cuộc hồi sinh của con gái ông Giairô, người con trai bà goá thành Naim hay Lararô mà là một sự sống mới mẻ.
Chúa Giêsu không còn bị lệ thuộc vào định luật của vật chất, không gian và thời gian. Thân thể của Chúa Phục Sinh đầy tràn quyền năng của Chúa Thánh Thần, tham dự vào sự sống thần linh trong trạng thái vinh quang của Người (x. GLHTCG, số 645-646). Đó là niềm vui và hy vọng cho chúng ta. Làm chứng cho Người là chúng ta chứng tỏ sự sống mới mẻ này cho con người thời đại hiện nay. Nhưng sự sống đó là gì, làm sao gặp được Đấng Phục Sinh để làm chứng về sự sống ấy?
1. Tìm lại nguồn sống
Dù sự sống đã xuất hiện trên trái đất này cách đây khoảng 1 tỉ năm, khởi đầu từ những tế bào đơn giản cho đến con người biết suy tư, nhưng nhiều người vẫn chưa biết sự sống là gì, bắt nguồn từ đâu và có thể phát triển đến mức độ nào.
Tìm trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, bộ từ điển giá trị nhất hiện nay gồm 4 cuốn với hơn 4.000 trang khổ lớn, chúng ta không tìm được định nghĩa của từ “sống”. Còn trong cuốn Từ điển tiếng Việt 2013, của Viện Ngôn ngữ học, người ta chỉ mô tả “sống là tồn tại ở hình thái có trao đổi chất với môi trường bên ngoài, có sinh sản, lớn lên và chết”. Nhưng đó chỉ là mô tả những chức năng chung của các sinh vật, chứ không phải là định nghĩa về sự sống và càng không mô tả được sự sống kỳ diệu của con người.
Thật ra, sự sống là một cái gì hiển nhiên, không cần minh chứng vì nó đang ở trong ta, trong muôn loài sống động quanh ta. Sự sống lạ lùng với hàng tỉ tế bào, mỗi tế bào là một cấu trúc hết sức phức tạp tạo thành mô, thành cơ quan, thành các hệ như hệ cơ xương, hệ thần kinh, hệ tim mạch, hệ bạch huyết, hệ tiêu hoá…. Nhưng sự sống lại có vẻ rất mong manh, tạm thời, phi lý và dễ dàng biến mất vì một viên thuốc độc, một viên đạn vô tình, một cơn nhồi máu cơ tim hay một loại virus lạ lùng nào đó.
Chính vì không biết sự sống là gì, bắt nguồn từ đâu và phát triển đến mức nào nên con người có những thái độ sống rất khác nhau. Có người cho sự sống là việc kết hợp ngẫu nhiên của vật chất trên đường tiến hoá theo giả thuyết của nhà khoa học Darwin, từ những chất vô cơ, đến hữu cơ, từ những thực vật đơn giản đến sinh vật phức tạp, đến các loài linh trưởng và cuối cùng là con người, nay còn, mai mất. Rồi cuối cùng tất cả đều tan rã thành tro bụi theo thời gian.
Có những người còn cho rằng mình sinh ra chỉ là do cha mẹ tình cờ ăn ở với nhau, rồi bất đắc dĩ sinh ra mình chứ chính họ không muốn sống khổ như thế này. Chính vì đó mà ở Việt Nam có cả triệu ca phá thai mỗi năm và trăm triệu ca trên khắp thế giới. Đó là chưa kể hàng trăm triệu phôi thai người bị biết giết hại mỗi năm qua những viên thuốc ngừa thai khẩn cấp sau khi làm tình với nhau hay sau khi làm thụ tinh nhân tạo trong phòng thí nghiệm.
Nhiều người thấy sự hiện hữu của mình thật là phi lý. Nó giống như bãi phân chó đáng nôn mửa trong tiểu thuyết Buồn nôn (1938) của triết gia Jean Paul Sartre, ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh. Nó chỉ là hạt bụi vô nghĩa do cơn gió vô tình thổi tới “hoá kiếp thành mình để rồi bị giọt mực đen ngòm của cái chết xoá bỏ không hay” như trong bài “Cát bụi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Vì thế, họ phung phí những năm sống cho các cuộc vui thâu đêm, chẳng lo cho mình, chẳng giúp cho đời. Nhà ái quốc Phan Bội Châu đã từng nhắc nhở: “Sống mà như thế đừng nên sống, sống tủi làm chi, đứng chật trời!”.
Trái lại, không ít nhà khoa học nhận thức được rằng: sự sống con người vô cùng mầu nhiệm vì hàng tỉ tế bào chuyển động không ngừng trong một cấu trúc kỳ diệu. Con người chỉ thực sự hiểu rõ sự sống hình thành từ sự kết hợp giữa trứng của người mẹ và tinh trùng của người cha từ thế kỷ XIX, đặc biệt sau khi kính hiển vi phát triển. Khoa học xác định bộ gen người gồm 23 cặp nhiễm sắc thể vào năm 1956, nhờ công trình nghiên cứu của hai nhà khoa học Joe Hin Tjio và Albert Levan.
Năm 2004 người ta mới biết trong 20.000 gen đó chứa tới 3 tỉ base ADN theo một trật tự nhất định thì mới thành con người, thay vì thành tinh tinh, khỉ đột hay các sinh vật khác. Từ đó con người biết ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên vì đã sinh ra mình, đã để lại cho mình những gen di truyền để hình thành nên dân tộc, nhưng vẫn chưa tìm ra nguồn của sự sống thật sự ở đâu.
Khi các nhà khoa học tìm xuống sâu hơn, bên dưới các tế bào, các gen và ADN, họ chỉ còn thấy khoảng 20 nguyên tố trong tổng số 118 nguyên tố được tìm thấy trong vũ trụ. Cấu trúc của chúng chỉ là những hạt hạ nguyên tử như proton, neutron, electron nằm cách rất xa nhau và chẳng có sự sống. Chúng vô hồn, vô cảm, không có sinh sản, lớn lên, biến đổi? Chúng chuyển hoá từng giây, từng phút trong thân xác con người cũng như trong mọi sinh vật. Vậy mà mỗi người đang suy nghĩ, yêu thương, mơ ước hạnh phúc, đi tìm chân thiện mỹ! Cái gì nối kết và làm chúng thành người?
Trước đó, nhân loại mất hàng ngàn năm để đi tìm nguồn sự sống trong đám vật chất vô hồn, mà chưa biết bản chất sự sống được định hình bởi một tinh thần lạ lùng, thiêng liêng, không bị lệ thuộc vào vật chất, không gian, thời gian. Nhờ tinh thần này con người mới có được tình cảm, tư tưởng, tình yêu, hạnh phúc, mới biết đến cảm thông, chia sẻ, mới vượt qua được nỗi lo sợ để tìm được bình an, hy vọng, niềm vui và vươn tới những giá trị tốt đẹp khác.
Từ đó các nhà khoa học mới nhận thức được con người thật sự có tinh thần là nguyên lý quy tụ vật chất và vuợt qua mọi biến đổi của vật chất, không gian, thời gian để tồn tại mãi mãi. Nhiều người nhận ra rằng sự sống thật sự của mình cũng như của vạn vật không nằm trong các nguyên tố vật chất mà bắt nguồn từ một Đấng Thiêng Liêng cao cả, là nguồn của mọi hiện hữu.
2. Sự sống toàn diện vĩnh hằng
Thánh Kinh giải thích cho ta hiểu về hiện tượng phục sinh qua cái chết và cuộc hồi sinh của Lazarô (x. Ga, 11,1-45). Cái chết của Lazarô là quy luật có thật cho mọi sinh vật chứ không phải cho riêng con người. Sinh-lão-bệnh-tử là lẽ thường tình, ai cũng biết mình phải trải qua. Nhưng khi đối mặt với cái chết, người ta vẫn lo sợ, khóc lóc, tiếc thương, vẫn hy vọng được sống và sống mãi vì tinh thần của con người luôn hướng về cội nguồn sự sống.
Và Đức Giêsu là cái neo để người ta đặt vào niềm hy vọng, vì Người đã nhiều lần làm cho kẻ chết sống lại (x. Lc 7,11-17; Mc 5,21-43). Do đó, cô Marta và Maria đã nói lên niềm hy vọng này: “Nếu Thầy có ở đây, em con đã không chết!”. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã cố tình trì hoãn, để Lazarô chết tới 4 ngày, thân xác vật chất bắt đầu phân huỷ, rồi mới cho ông sống lại, để chứng tỏ “Người là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Người thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Người sẽ không bao giờ phải chết”.
Nhưng khối vật chất “nặng mùi” chết chóc đó làm sao có thể nghe được tiếng nói, hiểu được lệnh truyền của Chúa Giêsu! Chỉ có tinh thần của Lazarô đang còn sống, đang hiện diện ở đó, mới nghe được, hiểu được và định hình lại những tế bào đang phân huỷ kia để chúng biến đổi thành người sống. Do đó, chúng ta đừng quá quan tâm tới đời sống thể lý, nhưng phải chú ý đến tinh thần của mình vì chính tinh thần định hình thể xác.
Nếu tinh thần định hình cho vật chất để vượt qua sự phân huỷ, tan rã, thì khi càng giữ cho tinh thần trong sáng, quảng đại, tràn đầy yêu thương, ta sẽ càng vượt qua nỗi sợ hãi cái chết, vượt qua những giới hạn của vật chất, không gian, thời gian để vươn tới những gì kỳ diệu, phi thường và tìm về được nguồn sống vĩnh hằng.
Cái chết lúc đó chỉ còn là một ngưỡng cửa mà ta phải bước qua trong cuộc đời trần thế để đi vào miền đất trường sinh. Mỗi tư tưởng, lời nói, hành động được tinh thần con người định hình sẽ có giá trị mãi mãi. Vì thế, con người phải tẩy rửa mọi vết bẩn bám vào tinh thần mình, nếu muốn sống hạnh phúc trọn vẹn với Chúa.
Tuy nhiên, vì là con người yếu đuối, luôn bị những tham vọng, dục vọng chi phối, nên tinh thần của ta đã có những lần sa ngã, kéo theo cái chết của thể xác. Vì thế, ta rất cần đến Chúa Thánh Thần. Ngài là tinh thần tuyệt đối, là thần khí của Thiên Chúa, thần khí của Đức Kitô. Vì thế, “dầu thân xác ta có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho ta được sống” (x. Rm 8,8-11).
Suy nghĩ về sự sống trọn vẹn của con người với hồn và xác, ta mới vượt qua những lo sợ về đau khổ, dịch bệnh, mất mát, xung đột kinh tế, chiến tranh hạt nhân hiện nay, vượt qua những lo lắng thái quá về cơm áo, gạo tiền, những trò vui, nghiện ngập và đời sống hưởng thụ ích kỷ chỉ phục vụ cho thân xác vật chất.
Đây là dịp giúp ta nhìn lại tâm hồn mình, kiểm tra sức khoẻ đời sống tinh thần, vượt qua cả những lễ nghi phụng tự của các tôn giáo để gặp gỡ được Thiên Chúa là tinh thần tuyệt đối. Ta sẽ dành thời gian để nối kết lại tình yêu thương trong gia đình, chia sẻ và giúp đỡ những người già yếu, nghèo khổ quanh ta. Ta cũng dành thời gian để học hỏi và đào luyện tinh thần mình cho phát triển hơn về tri thức, mạnh mẽ hơn về ý chí và mở rộng tới vô biên để gặp gỡ được Đấng Siêu Việt là Đức Giêsu đang sống.
Chúng ta mừng Đức Giêsu Phục Sinh. Người sống lại để giúp ta giữ được niềm vui, hy vọng và hạnh phúc giữa bao đau khổ, bất công, bất hạnh của xã hội loài người. Từ đó ta có thể làm chứng về Đấng Phục Sinh cho con người thời nay khi họ chỉ biết tin tưởng khoa học và tiền của vật chất có thể giải quyết được mọi chuyện. Nếu Đức Giêsu không sống lại thì cuộc đời của từng người chúng ta, cũng như của cả vũ trụ này, đã giống như những nấm mộ hoang trong các nghĩa trang trên khắp thế giới.
3. Những ngôi mộ hoang
Thật vậy, chúng ta thử tưởng tượng xem, một ngày nào đó, có một vật thể khá lớn của vũ trụ đâm vào trái đất, tất cả chúng ta sẽ bị thiêu rụi, biến mất trong nháy mắt. Hoặc nếu có cuộc chiến tranh hạt nhân xảy ra, như đang đe doạ nhân loại trong cuộc xung đột ở Ucraina hay ở Iran, kho chứa loại vũ khí này của các cường quốc đủ để làm nổ tung trái đất nhiều lần và cả nhân loại cũng biến mất không cần nấm mồ chôn nào. Vậy thì tất cả những công trình kiến trúc, văn hoá, nghệ thuật, khoa học, xã hội, tôn giáo của loài người sẽ còn lại gì? Nếu chúng không có giá trị vĩnh hằng, chúng ta cần gì phải xây dựng chúng!
Nhìn vào cuộc sống của nhiều người, chúng ta thấy họ cũng giống như những ngôi mộ vô hồn trong một nghĩa trang vĩ đại. Có những bạn trẻ nam nữ khoẻ mạnh, đầy tài năng, nhưng lại đang phung phí nguồn lực của mình để thoả mãn những tham vọng và dục vọng, rồi lại luôn cảm thấy buồn chán, cho rằng cuộc đời là vô nghĩa, vô thường. Có những người giàu có, thành đạt, trong xã hội nhưng đến giờ phút cuối đời lại cho tất cả những thứ mình có là vô nghĩa và ân hận vì không dành những giờ phút sống cho các giá trị tinh thần.
Có những người mắc bệnh nan y, chỉ muốn kết thúc cuộc đời bất hạnh mà không nhận ra giá trị của những thử thách đó như chuẩn bị cho đời sống vĩnh hằng. Có những phụ nữ cảm thấy đời mình gặp toàn bất hạnh, đầu tắt mặt tối làm việc như một con ở không lương, chồng chẳng quan tâm, con cái hư đốn, chẳng tìm được niềm vui nào ở cuộc đời. Nếu Đức Giêsu không sống lại thì các nấm mộ buồn khổ, thất vọng, chết chóc, hoang tàn kia sẽ dìm tất cả trong bể khổ muôn đời.
Nhưng Đức Giêsu đã sống lại. Ngôi mộ chôn táng Người trống rỗng. Người đã chiến thắng sự chết để mở tung các ngôi mộ đang chôn vùi con người. Từ đó Người đem lại cho ta niềm vui và hy vọng. Vì thế, thánh Phaolô mời gọi chúng ta rằng: “Anh em đã trỗi dậy cùng với Đức Kitô, anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những điều cao cả thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (x. Cl 3,1-4).
Tuy nhiên, ta chỉ có thể cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc nếu gặp được Đấng Phục Sinh. Vì thế câu hỏi quan trọng đặt ra cho ta là làm thế nào để cảm nghiệm được Người, vì Người đang ở giữa chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28,20)?
4. Làm sao gặp được Đấng Phục Sinh?
Bài Tin Mừng Ngày Lễ Phục Sinh (x. Ga 20,1-18) luôn giới thiệu 3 môn đệ tiêu biểu để chúng ta chọn lựa thái độ sống và từ đó đạt được niềm mong ước của mình là gặp được Đấng Phục Sinh. Đó là Maria Mađalêna-cô gái điếm đã hoàn lương, Simon Phêrô-tông đồ trưởng, và Gioan-người môn đệ được Đức Giêsu yêu quý.
Cả ba người, giống như chúng ta, đều yêu Đức Giêsu, nên đã thao thức về cái chết bất công, về một thân xác chưa được tẩm liệm trọn vẹn của Chúa Giêsu. Nếu không yêu, người ta sẽ sống thờ ơ, lãnh đạm, chẳng thèm quan tâm hay thao thức về nhau. Vì thế nên Mađalêna cùng với vài phụ nữ mang dầu thơm đến mộ để xức xác Chúa Giêsu vào sáng sớm ngày Chúa sống lại. Tình yêu chân thành đối với Chúa Giêsu phải luôn làm chúng ta thao thức về những nỗi đau khổ, bất công, nghèo đói, tật bệnh mà bao Giêsu thấp cổ bé miệng đang phải chịu đựng trong xã hội quanh ta.
Rồi khi được tình yêu thôi thúc, họ không còn đi đứng bình thường, mà tất cả đều chạy. Chạy nghĩa là làm nhanh hơn, tốt hơn, chạy là hy sinh nhiều hơn, chịu đựng gian khổ hơn và tha thứ quảng đại hơn. Chạy là biết cho đi mà không còn tính toán theo lẽ công bình, là yêu mà không cần được yêu lại.
Nhưng tình yêu không phải chỉ thôi thúc ta chạy tới, tình yêu còn mời gọi ta biết dừng lại. Dừng lại ở cửa mộ Giêsu vì nhận ra cái chết của Người đòi ta phải hành động khác với thường tình. Madalena dừng lại và không vào dù tới mộ sớm nhất, chị chạy về báo tin cho Simon Phêrô và Gioan. Hai tông đồ này cũng chạy, nhưng vì Gioan còn trẻ nên chạy nhanh hơn Phêrô. Tuy nhiên, Gioan cũng không lợi dụng ưu thế của mình để vào mộ trước, ông dừng lại nhường cho Phêrô.
Cuộc sống của ta cũng vậy: có thể ta trẻ đẹp hơn, tài năng hơn, giàu có hơn, đạo đức hơn so với các người khác, nhưng ta được mời gọi tự nguyện dừng lại, tự nguyện nhường nhịn người khác vì tình yêu đối với Đức Giêsu. Vậy ta có biết nhường nhịn hay là ta đang quyết tâm giữ mãi ý kiến, định kiến của mình, đòi hỏi quyền lợi hợp pháp, hợp lý của mình khiến cho mình bất an và cộng đồng bất hạnh như hiện nay?
Kết quả là khi ta biết thao thức, dám chạy tới và tự nguyện dừng lại tuỳ theo mức độ tình yêu đối với Chúa Giêsu thì ta sẽ cảm nghiệm Người một cách khác nhau. Thánh Kinh không nói gì đến việc Phêrô có tin hay không tin, nhưng ông không gặp Đức Giêsu Phục Sinh lúc ở gần ngôi mộ vì ông thao thức ít hơn cả, chạy chậm hơn cả và không nhường ai. Gioan thì chạy nhanh hơn Phêrô, biết nhường cho Phêrô nên dù ông chỉ thấy những khăn liệm, vải liệm sắp đặt gọn gàng, nhưng ông “đã thấy và đã tin” Chúa Giêsu sống lại.
Chỉ có Mađalêna là người đã thao thức nhiều nhất, đã chạy tới mộ sớm nhất và đã nhường nhịn cả hai người kia, nên đang khi chị còn đứng gần mộ than khóc thì Đức Giêsu đã hiện ra nói với chị rằng: “Này bà kia, sao mà khóc, bà tìm ai? Tưởng là người làm vườn nên chị nói rằng: Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về. Nhưng, Chúa Giêsu gọi: “Maria!” Chị đã nghe tiếng gọi quen thuộc của Thầy mình và đã ôm được Đức Giêsu Phục Sinh trong vòng tay của mình (x. Ga 20,11-18).
Đó là các thái độ mà chúng ta cần thể hiện trong đời sống để có thể cảm nghiệm được Đấng Phục Sinh và làm chứng cho Người trong thời đại hiện nay như thánh Phêrô nói với gia đình ông Corneliô: “Chúng tôi đã cùng ăn, cùng uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Chúng tôi xin làm chứng về tất cả những điều ấy” (x. Cv 10,34-43). Vậy chúng ta có thao thức, chạy tới và dừng lại trong đời sống thường ngày đối với tất cả những Giêsu đau khổ, tật bệnh, khốn cùng quanh ta như thế nào?
Dù là những người yếu đuối, tội lỗi, nhưng chúng ta cũng muốn làm chứng rằng Đức Giêsu đã thật sự sống lại. Người đang ở giữa chúng ta để làm cho đời ta có ý nghĩa, tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.
5. Đường Ánh Sáng theo thánh Ignatio
Có một phương thế để sống mầu nhiệm Chúa Giêsu Phục Sinh và cảm nghiệm được Người, đó là đi Đường Ánh Sáng. Vậy đường này là gì và đi như thế nào?
Một việc đạo đức bình dân gắn liền với Chúa Giêsu Phục Sinh được nhiều dân tộc thực hành, nhất là trong mùa Phục Sinh, là đi Đường Ánh Sáng. Đường này cũng gồm 14 nơi, tương ứng với 14 chặng của Đàng Thánh Giá, kể lại những lần Chúa Phục Sinh hiện ra với nhiều người kèm theo những bài học đạo đức thực tế trong đời sống.
Tìm về lịch sử. Ngay từ thế kỷ XVI, thánh Ignatiô Loyola, Đấng sáng lập dòng Tên, đã kể lại gần hết các lần hiện ra của Đấng Phục Sinh trong sách Những Bài Linh Thao của Ngài viết vào năm 1544, từ số 299 đến số 312 (x. Lm. Đinh Văn Trung, SJ, Những bài Linh Thao). Sau đây là thứ tự Đường Ánh Sáng của ngài:
Nơi thứ nhất: Chúa Giêsu hiện ra đầu tiên với Mẹ Maria.
Nơi thứ hai: Chúa Giêsu hiện ra với bà Maria Mađalêna.
Nơi thứ ba: Chúa Giêsu hiện ra với các phụ nữ.
Nơi thứ tư: Chúa Giêsu hiện ra với ông Simon Phêrô.
Nơi thứ năm: Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ đi Emmaus.
Nơi thứ sáu: Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ ở nhà Tiệc Ly.
Nơi thứ bảy: Chúa Giêsu hiện ra với ông Tôma.
Nơi thứ tám: Chúa Giêsu hiện ra với 7 môn đệ ở bờ biển Galilê.
Nơi thứ chín: Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trên núi.
Nơi thứ mười: Chúa Giêsu hiện ra với hơn 500 môn đệ.
Nơi thứ mười một: Chúa Giêsu hiện ra với thánh Giacôbê.
Nơi thứ mười hai: Chúa Giêsu hiện ra với ông Giuse Arimathia.
Nơi thứ mười ba: Chúa Giêsu hiện ra với thánh Phaolô.
Nơi thứ mười bốn: Chúa Giêsu lên trời.
Điều khá thú vị là ngài đã kể lại tuần tự các lần hiện ra theo đúng diễn tiến thời gian trong các sách Tân Uớc, nhất là trong các sách Tin Mừng (từ nơi II-IX), trong thư I gửi giáo đoàn Corinthô của thánh Phaolô (nơi X-XIII), sách Công vụ Tông đồ (nơi XIV).
Đặc biệt là ngài đã đặt việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với Mẹ Maria làm nơi đầu tiên, không theo các bản văn Thánh Kinh, nhưng theo Thánh Truyền vì các thánh giáo phụ vẫn tin và giảng dạy rằng Chúa Giêsu hiện ra với Mẹ Maria trước tiên vì Mẹ đã đóng góp nhiều nhất cho cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Mẹ đã theo Người trên các chặng đường khổ giá, đã đứng vững dưới chân thập tự giá và vững lòng tin tưởng vào việc Chúa Cha sẽ cho Con mình trỗi dậy từ cõi chết như Thánh Kinh đã báo trước.
Tuy nhiên, chúng ta ghi nhận là ở số 310 trong sách Linh Thao, thánh Ignatiô nói về cuộc hiện ra với ông Giuse Arimathia. Ngài viết theo Nguỵ thư thánh Giacôbê hay theo lòng đạo đức thời đó, giống như nhiều chặng trong Đàng Thánh Giá. Có lẽ vì thế mà Đường Ánh Sáng này không được phổ biến nhiều trong Giáo Hội, nhất là sau khi dòng Tên bị lên án, trục xuất tại một số quốc gia châu Âu và cuối cùng bị Toà Thánh cấm hoạt động trong khoảng thời gian từ 1759 đến năm 1814.
Từ đó chúng ta thấy có nhiều bản văn Đường Ánh Sáng khác nhau trong các dòng tu và các dân tộc. Nếu đến Trung tâm hành hương ở Fatima, Bồ Đào Nha, chúng ta sẽ thấy bộ ảnh Đường Ánh Sáng rất đẹp trong nhà thờ mới. Nếu sang Philippines, chúng ta sẽ gặp nhiều nhà thờ có các bộ tượng Đường Ánh Sáng khác nhau. Các sách kinh in cho các bạn trẻ Philippines cũng có các bản kinh hướng dẫn đi Đường Ánh Sáng này.
Tuy nhiên, các Đường Ánh Sáng đó không đầy đủ như bản của Thánh Ignatiô. Chúng thường thiếu các cuộc hiện ra được thánh Phaolô kể lại trong thư 1 Corinthô. Vì thế để làm thành đủ 14 nơi tương ứng với 14 chặng Đàng Thánh Giá, người ta đã chia nhỏ các lần hiện ra. Ví dụ chia việc Chúa Giêsu hiện ra với 2 môn đệ trên đường đi Emmaus thành 2: một lần đi chung với 2 môn đệ, một lần ngồi ăn trong nhà với 2 ông. Hoặc Lần hiện ra ở bờ biển Galilê được chia thành 2: một lần các môn đệ đang kéo lưới, lần khác hỏi thánh Phêrô 3 lần về tình yêu và trao nhiệm vụ chăn dắt đàn chiên cho ông.
Đường Ánh Sáng ngày nay. Nhờ những nghiên cứu mới của khoa Thánh Kinh, khảo cổ, dân tộc, văn hoá các dân tộc, nhiều vấn đề đã được giải đáp như việc xức dầu thơm cho xác Chúa Giêsu, danh sách các phụ nữ đến thăm mộ, số thiên thần canh giữ mộ, các địa điểm hiện ra của Chúa Giêsu… Đường Ánh Sáng theo thánh Ignatiô lại càng có giá trị hơn các bản văn khác. Tuy nhiên chúng tôi muốn thêm vào một vài điểm để kiện toàn bản văn này.
Nhiều tín hữu thời nay nghĩ rằng Chúa Giêsu Phục Sinh đã chấm dứt các lần hiện ra với thân xác của mình sau khi Người lên trời. Nếu như thế thì Lời của Chúa Giêsu nói: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (x. Mt 28,20) phải hiểu thế nào? Họ còn nghĩ rằng: việc Chúa Giêsu hiện ra với một vài vị thánh nhân trong lịch sử chỉ là những trường hợp hoạ hiếm, các môn đệ khác đừng mong những ân phúc đặc biệt đó!
Nhưng thử hỏi đó có phải là ý muốn của Chúa Giêsu không? Chúng tôi đã tìm thấy lời giải đáp qua Đường Ánh Sáng của Thánh Ignatiô vì Chúa Giêsu muốn hiện ra với rất nhiều người, với cả những ai bách hại Người như hiện ra với Phaolô.
Trước hết chúng tôi mạo muội xin đổi nơi XII, lần “Chúa Giêsu hiện ra với ông Giuse Arimathia” bằng việc “Chúa hiện ra với tất cả các tông đồ”. Việc này tránh được cuộc tranh cãi về việc Chúa có thật sự hiện ra với ông ấy không, về nguỵ thư, về tính cách hợp lý của bản văn do thánh Ignatiô biên soạn hay môn đệ sửa đổi từ nguỵ thư sang lòng đạo đức bình dân.
Hơn nữa việc “Chúa hiện ra với tất cả các tông đồ” ghi ở câu 1Cr 15,7 giúp cho toàn bộ Đường Ánh Sáng có giá trị Thánh Kinh và Thánh Truyền. Cuộc hiện ra này còn rất hợp với thứ tự thời gian vì đặt trước cuộc hiện ra với thánh Phaolô ở nơi XIII.
Thật bất ngờ khi chúng tôi tìm lại bản văn của thánh Phaolô thấy thánh Ignatiô bỏ sót lần hiện ra này. Có thể do ngài đã hiểu lầm việc Chúa Giêsu “hiện ra với Nhóm Mười Hai” ở câu 15,5 với việc “hiện ra với tất cả các Tông đồ” ở câu 15,7 là một. Thánh Phaolô phân biệt rất rõ Nhóm Mười Hai với tất cả các tông đồ, dù rằng Nhóm Mười Hai cũng được gọi là tông đồ (x. Mt 10,2; Mc 6,30; Lc 6,13;22,14; Cv 1,2.26; 2,42, 4,33.35; 5,12.18…).
Nơi XII còn làm nên giá trị cao cho Đường Ánh Sáng và bảo đảm cho ta chắc chắn gặp được Đấng Phục Sinh. Khi ta xác định mình là môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu, là tông đồ của Người thì ta sẽ gặp Người. Tất cả những ai được Chúa kêu gọi, chọn lựa và sai đi đều được Chúa Phục Sinh hiện ra để giúp họ cảm nghiệm Người đã trỗi dậy từ cõi chết, đang sống với mình và ban nhiều ân phúc để họ làm chứng cho Người. Điều này đem lại cho ta vui mừng và hy vọng để quyết tâm làm người môn đệ thừa sai.
Người Công giáo Việt Nam chúng ta trong gần 500 năm được truyền đạo đến nay chỉ biết Đàng Thánh Giá, chặng đường đau khổ của Chúa Giêsu Kitô, nên thiếu niềm vui và hạnh phúc. Hy vọng Đường Ánh Sáng này sẽ làm cho đời sống đạo thêm tích cực, tràn đầy niềm vui và hy vọng ‘vì nếu Đức Kitô không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng (x. 1Cr 15,14).
Bản kinh chúng tôi biên soạn đã được trình bày trong sách Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn giáo, 2013, tr. 222-235; 425-445, in 2 lần; Bạn là Lời cứu độ, NXB Đồng Nai, in 4 lần và các bản in rời, tổng cộng khoảng 100.000 cuốn. Bản văn đã được Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo phận Kontum, cấp phép cho sử dụng từ ngày 6/6/2013.
Lời kết
Cầu chúc tất cả những ai sử dụng Đường Ánh Sáng này được tràn đầy niềm vui, bình an, hy vọng và tình yêu của Đấng Phục Sinh để cảm nghiệm Người thật sự hiện ra với mình ít là một lần trong cuộc đời.