Bài 2. Con người là trung tâm
Tuần thường huấn cho linh mục Giáo phận Hưng Hoá, Thứ ba, 14/4/2026
Tuần thường huấn cho linh mục Giáo phận Hưng Hoá,
Bài 2, Thứ ba, 14/4/2026
Con người là trung tâm
Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
Kể từ lúc con người hiện đại (homo sapiens) biết suy tư xuất hiện cách đây khoảng 195.000 năm, đã có khoảng 100 tỉ người sống trên trái đất. Tính đến đầu năm 2026, dân số thế giới đang là khoảng 8,2 tỉ người. Con người không ngừng tìm kiếm câu trả lời về lai lịch của mình (x. GS, số 10,12), về chỗ đứng và vai trò của con người trong xã hội và vũ trụ, về cùng đích của con người và muôn vật (x. GS, số 3). Trong quá trình suy tư, con người khám phá ra nhiều điều mới lạ.
1. Cần xác định đúng vị thế của con người
1. Khi khẳng định “con người là trung tâm”, nhiều tín hữu ngại ngùng, sợ rằng mình xúc phạm đến Thiên Chúa vì họ đã quen nghĩ rằng Chúa là tất cả, là nguồn cội, là trung tâm và là cùng đích của đời sống, nên phải quy hướng mọi sự về Thiên Chúa.
Hầu như mọi hoạt động trong đời sống tín hữu chỉ nhắm đến việc làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Họ cử hành các nghi thức phụng vụ để tôn thờ Chúa, xây dựng các thánh đường, nhà giáo lý, thậm chí các cơ sở giáo dục, bác ái cũng chỉ để làm vinh danh Chúa, cứu linh hồn, hơn là trực tiếp nhắm đến con người toàn diện có cả hồn lẫn xác!
2. Con người trong kế hoạch của Thiên Chúa. Thật ra, Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, giao cho con người thống trị mặt đất và mọi sinh vật trên mặt đất (x. St 1,27-28). Như thế con người là trung tâm của vũ trụ vật chất. Rồi khi con người sa ngã kéo theo cả vũ trụ phải hư nát, Thiên Chúa đã sai Con Một Ngài trở thành người để cứu độ tất cả, do đó con người cũng là trung tâm cho mọi hoạt động cứu độ của Thiên Chúa.
3. Con người là con đường của Hội Thánh. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc nhở: con người là lý do tồn tại của Giáo Hội vì Giáo Hội được Chúa Giêsu lập nên là để cứu độ con người, nên con người cũng là con đường của Giáo Hội và là trung tâm cho mọi hoạt động của Giáo Hội. Tuy nhiên, khi Giáo Hội quay lưng lại con người, thì con người cũng bỏ Giáo Hội khiến họ đánh mất luôn cả Thiên Chúa cùng với Chúa Giêsu, vì họ không nhận ra Chúa Giêsu chính là con người lý tưởng mà mình mơ ước đạt tới để được thần hoá thành con Thiên Chúa như Người.
4. Giáo Hội đồng hành với nhân loại. Trước những thách đố, nguy cơ, xung đột của thời đại liên quan đến con người, ĐGH Lêô XIII đã công bố thông điệp Rerum Novarum (Các sự việc mới) năm 1891 như học thuyết xã hội Công giáo đầu tiên. Năm 1941, ĐGH Piô XI cũng đưa thêm những dữ liệu mới. Công đồng Vaticanô II với hiến chế Gaudium et Spes năm 1965 đã giới thiệu một Giáo Hội liên đới sâu xa với con người. Thánh GH Gioan Phaolô II đã công bố cuốn Tóm lược Học thuyết Xã hội Công giáo năm 2004 và ĐGH Phanxicô giới thiệu cuốn Docat năm 2016 cho các bạn trẻ như là bản tóm lược của học thuyết này. Tất cả như mời gọi ta nhìn lại vị trí trung tâm của con người để điều chỉnh hoạt động của mình và của từng cộng đồng, nếu muốn đồng hành với nhân loại.
5. Con người trong kỷ nguyên mới. Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: muốn phát triển bền vững đất nước phải dựa vào con người và văn hoá, lấy con người là trung tâm và không để ai bị bỏ lại phía sau. Cần xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới (x. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII ngày 20/1/2026, Nghị quyết Đại hội Đảng khoá XIV ngày 23/1/2026 do Tổng Bí thư Tô Lâm tuyên đọc, và các nghị quyết 68,70,71,72,80 của Trung Ương Đảng từ ngày 4/5/2025 đến ngày 7/1/2026). Vì thế, Giáo hội CGVN cần phải xác định đúng vị thế của con người trong kỷ nguyên mới này để đồng hành cùng dân tộc và loan báo Tin Mừng hiệu quả.
2. Những vị thế khác nhau của con người trong dòng lịch sử
6. Đứng trước thực tại vô cùng phong phú của con người, nhiều dân tộc đã cố gắng giải thích, tạo thành những hệ tư tưởng và những thái độ sống khác nhau. Chúng ta có thể tóm tắt những quan điểm nổi bật trong dòng lịch sử thành 4 thời kỳ sau đây:
7. Thời kỳ Bái vật (từ thời Tiền sử, 3,3 triệu năm TCN, đến thời Đồ Đá Mới, 5.700 TCN)
Đây là thái độ của những người nguyên thuỷ, hay người tiền sử, chưa biết đến khoa học, chỉ nhìn vào các hiện tượng bên ngoài, thấy hổ báo, sấm sét, lửa nước, gió bão, núi sông mạnh mẽ hơn mình thì tôn thờ chúng. Tổ tiên ta cũng đã từng quan niệm: “Đất có thổ công – Sông có hà bá”.
Con người không đặt câu hỏi về mình, về những sự việc liên quan đến mình như tình yêu, tư tưởng, khổ đau, hạnh phúc, bệnh tật, cái chết, và coi chúng là những chuyện tự nhiên của kiếp người giống như bao sinh vật khác. Thái độ bái vật này vẫn còn xuất hiện trong thời đại hiện nay, khi một số người tôn thờ tiền của, danh lợi, coi chúng là giá trị tuyệt đối trong đời sống: “Có tiền mua tiên cũng được!”.
8. Thời kỳ Bái thần (từ thời Cổ đại, 5.000 TCN, đến thời Cận đại, thế kỷ XV)
Nhờ trí thông minh, con người thắng được các sức mạnh thiên nhiên, tìm ra lúa gạo, lúa mì và các cây lương thực, thuần hoá các động vật hoang dã thành gia súc nên bỏ đi đời sống hang động, du mục, chuyển sang định canh, định cư lâu dài. Con người phát triển giao thông vận tải, xây dựng nhiều thành phố bên cạnh sông hồ và cửa biển nên bỏ đi đời sống bộ lạc, thị tộc và hình thành nên các quốc gia. Con người phát triển hệ thống ngôn ngữ, hệ thống chữ viết như chữ hình nêm, chữ Hán, chữ Hy Lạp, chữ Latinh để chia sẻ thông tin, trao đổi tư tưởng, tình cảm cho nhau, tạo thành các nền văn minh ở đồng bằng Lưỡng Hà (Mesopotamia), bờ sông Nil ở Ai Cập, sông Hằng ở Ấn Độ, sông Dương Tử ở Trung Quốc, nền văn minh Hy Lạp, văn minh La Mã,…
9. Các dân tộc giàu mạnh, thông minh sáng tạo ra các phương tiện chiến tranh, dùng sức mạnh vũ khí để xâm lăng các dân yếu kém hơn và bắt họ lệ thuộc về mặt kinh tế, văn hoá, tinh thần. Mỗi dân tộc cố gắng giải thích nguồn gốc dân tộc, các giá trị và phản giá trị bằng những huyền thoại. Họ tưởng tượng rồi tạo ra các thần linh như thần Sự Sống, Khôn Ngoan, Tình Yêu, Sắc Đẹp, Nghệ Thuật, Thi Ca, Chiến Tranh, thần Chết… rồi thể hiện lòng sùng bái đối với các vị thần đó. Vì thế, người ta gọi chung thời kỳ này là bái thần, mà đặc sản của nó là các tôn giáo.
10. Có hàng ngàn tôn giáo, trong đó có những tôn giáo lớn hoặc lâu đời như Do Thái giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Lão giáo, Kitô giáo, Hồi giáo,… giải thích khác nhau về nguồn gốc, vị thế và cùng đích của con người. Hầu hết đều cho rằng con người bắt nguồn từ thần linh, do thần linh điều khiển và chi phối. Chỉ có thần linh là tồn tại và bất tử, còn con người chỉ là đồ chơi của thần linh, sống tạm bợ và tan biến vào hư vô sau cái chết. Muốn bất tử con người phải tu thân theo một quy luật nào đó để kết hợp với thần linh. Nhưng những chứng cứ về sự bất tử của con người sau khi chết thật ít ỏi và khó tin nên những người biết suy tư bắt đầu yêu chuộng khoa học và ngày càng xa dần tôn giáo.
11. Thời kỳ Bái nhân (từ thời Cận đại, thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XX)
Nhờ phát triển các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn, con người khám phá ra mình đã sai lầm khi dồn mọi sức lực để tôn thờ các thần linh giả tạo. Nhiều người đã loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống và quay sang tôn thờ con người, tôn thờ khoa học vì nghĩ rằng khoa học có thể giải quyết được tất cả những vấn nạn của đời sống.
12. Nhiều người tin vào giả thuyết “vạn vật tự tiến hoá ngẫu nhiên” thành con người được C. Darwin (1809-1882) công bố năm 1859. Họ không còn tin vào thần linh mà tập trung hoàn toàn vào con người. Các triết gia K. Marx (1818-1883) và F. Engels (1820-1895), khi xây dựng chủ nghĩa Cộng Sản vào giữa thế kỷ XIX, đã đưa giả thuyết này xa hơn và cho rằng “vật chất tự tiến hoá thành tinh thần”. Do đó, Đấng Tối Cao duy nhất, là Tinh thần Tuyệt đối, bị coi là giả tạo và các tôn giáo bị chối bỏ. Nhiều người bắt đầu đón nhận hệ tư tưởng thuyết duy vật, vô thần này dù đại đa số nhân loại vẫn tin theo một tôn giáo nào đó. Chủ thuyết này tác động nhiều trên các người trẻ bởi vì có tính khoa học với những dữ liệu rõ ràng.
13. Nhiều dân tộc đã thay đổi chính sách an sinh xã hội để quy hướng vào con người, lấy con người làm trung tâm cho mọi hoạt động và giá trị. Vì thế, người ta gọi thái độ này là nhân bản vì lấy con người làm gốc, hay nhân văn vì tập trung vào những giá trị văn hoá do con người sáng tạo nên.
14. Điểm đáng ghi nhận trong thời kỳ này là sự xuất hiện 2 hệ tư tưởng đều lấy con người làm trung tâm nhưng theo hai cách nhìn khác nhau. Hệ tư tưởng Cộng Sản chọn con người theo nghĩa tập thể xã hội và hệ tư tưởng Tư Bản chọn con người theo nghĩa cá nhân. Trong nhiều năm đầu của thế kỷ XX, hai chủ thuyết này đấu tranh gay gắt và xung đột mãnh liệt với nhau ở nhiều nước trên thế giới.
15. Nhưng từ hậu bán thế kỷ XX, người ta nhận ra bản chất của con người vừa là một cá nhân với các quyền căn bản cần được tôn trọng, vừa là một chủ thể xã hội với những nghĩa vụ phải xây dựng tập thể và cộng đồng. Nền kinh tế cũng không thể hoàn toàn là tư nhân theo chủ nghĩa Tư Bản và cũng không thể hoàn toàn do nhà nước chỉ huy theo chủ nghĩa Cộng Sản, nên đã hình thành nền kinh tế thị trường. Cách tổ chức chính quyền của các nước cũng dần dần phối hợp hai hệ tư tưởng trên đây.
16. Các nước trong khối Đông Âu và Liên Xô tan rã (1989-1991) trong cuộc Cách mạng 1989 với Đông Đức nhập vào Tây Đức (1990), Liên Bang Xô Viết chia thành 15 nước độc lập (1991), Tiệp Khắc tách thành Séc và Slovakia (1993). đã chứng minh điều đó. Hiện nay chỉ còn 5 nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo là Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba và Triều Tiên với dân số khoảng 1,6 tỷ người (x. Wikipedia).
17. Thời kỳ nhân bản toàn diện (bắt đầu từ thế kỷ XXI trở đi)
Những thành tựu của khoa học và công nghệ đã thay đổi nhận thức của con người về chính mình, về tổ chức chính quyền và xã hội, về vũ trụ vạn vật, và về cả Thiên Chúa. Người ta gọi đây là thời kỳ nhân bản toàn diện, nghĩa là vẫn lấy con người làm trung tâm, làm gốc, nhưng con người này được nhìn toàn diện trong mọi lĩnh vực và mọi tương quan. Chỉ trong vòng 20 năm gần đây, khoa học mới khám phá ra con người không phải chỉ là trung tâm của trái đất, nhưng còn là trung tâm của vũ trụ vật chất vì cấu trúc kỳ diệu của thân xác và tinh thần.
3. Xây dựng nền nhân bản toàn diện và liên đới
18 . Nền văn minh tình yêu là đích điểm cuối cùng cho mọi hoạt động của Giáo hội Công giáo ở trần thế này (x. TLHTXHCG, số 103, 391, 582). Để đạt được mục đích đó, Giáo Hội cổ vũ mọi tín hữu xây dựng nền nhân bản toàn diện và liên đới. Đường hướng này được Giáo Hội xác định ngay trong lời mở đầu của cuốn Tóm lược HTXHCG (số 6, 19; 582) và nội dung của nền nhân bản này được trình bày trong suốt 12 chương của cuốn Tóm lược và cuốn Docat. Tuy nhiên, rất nhiều học viện Công giáo ít quan tâm và hầu hết tín hữu Công giáo chưa hiểu biết nền nhân bản này là gì và bao gồm những nội dung nào.
Nền nhân bản Công giáo là gì?
Phân biệt từ ngữ
19. Từ “nền nhân bản” chỉ được dùng vài lần trong cuốn Tóm lược HTXH, được Công đồng Vaticanô II nhắc đến ít lần trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes (số 7,55,56). Nguyên ngữ Latinh là humanismus (Anh ngữ: humanism) bắt nguồn từ từ homo – con người (nhân). Nhiều từ điển Việt Nam dịch là chủ nghĩa nhân bản, chủ nghĩa nhân văn (theo Trung Quốc), chủ nghĩa nhân đạo. Từ điển Công giáo 2016 của HĐGMVN nói đến “nền nhân bản Kitô giáo”: “là hệ thống quan niệm Kitô giáo về ‘căn tính’ (bản chất) của con người vốn được biểu hiện trong các mối tương quan của con người với Thiên Chúa, với nhau và với vũ trụ” (x. tr. 637).
20. Ngày nay người ta phân biệt chủ nghĩa nhân văn thế tục, nhân văn vô thần với nhân văn tôn giáo. Chủ nghĩa nhân văn thế tục cho rằng thế giới mà con người đạt tới là tất cả thực tại, không có thế giới của những giá trị siêu việt và loài người là giá trị cao quý nhất. Chủ nghĩa này còn cho rằng niềm tin vào Thượng Đế làm cho con người mất đi phẩm giá và tính sáng tạo, khiến cho họ không còn thiết tha đến việc phát triển năng lực và trau chuốt sự cao quý của nhân loại, và làm trì trệ khả năng vươn lên về kinh tế, khoa học, thẩm mỹ và đạo đức. Các tác giả tiêu biểu cho chủ nghĩa này: L. Fenerbach (1804-1872), Karl Marx (1818-1883), F. Nietzsche (1844-1900) và Signund Freud (1856-1939). Công đồng Vaticanô II đã lưu ý nhắc nhở ta về chủ nghĩa nhân bản thế tục thuần tuý đối nghịch với tôn giáo (x. GS, số 56).
Xác định từ ngữ
21. Trước hết, chúng ta dùng từ “nền nhân bản“: nền là cơ sở của một việc gì, nhân là người, bản là gốc, cội rễ, thay vì “chủ nghĩa nhân bản” để tránh hiểu lầm rằng Giáo hội Công giáo đang muốn xây dựng một chủ nghĩa đối kháng với các chủ nghĩa đang có mặt như Tư bản, Cộng sản, Duy thực, Duy nghiệm, Duy lý, Duy tâm, Duy vật… Đây là nền nhân bản được xây dựng cho con người và vì con người, nên bất cứ chế độ chính trị, tổ chức chính quyền, loại hình kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo nào cũng có thể tiếp nhận và hoà hợp, miễn là không đi ngược với bản chất và những quyền lợi căn bản của con người.
22. Chúng ta dùng từ nhân bản chứ không dùng từ nhân văn, vì nhân văn thuộc về văn hoá con người. Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất hay tinh thần do “con người sáng tạo nên” trong một giai đoạn nhất định của lịch sử. Nhân bản có ý nghĩa rộng lớn, bao gồm tất cả những gì thuộc về con người, nhưng không phải chỉ là những giá trị do con người sáng tạo mà còn cả những giá trị được ban tặng cho con người như tình yêu, tri thức, ân sủng…
23. Ta cũng cần phân biệt rằng nền nhân bản toàn diện và liên đới là do Công giáo giới thiệu cho cộng đồng nhân loại, chứ không phải do Kitô giáo, như ghi nhận trong Từ điển Công giáo 2016 của HĐGMVN. Nền nhân bản này lấy Đức Giêsu Kitô là con người mới, hoàn hảo, nhưng nhiều hệ phái Tin Lành không đồng quan điểm với Công giáo về Đức Giêsu Kitô, nhất là từ khi nhà thần học Rudoft Bultmann (1884-1976), vào những năm 1940-1960, chủ trương giải trừ huyền thoại ra khỏi Tin Mừng, loại bỏ những phép lạ và thậm chí cả cuộc sống lại của Đức Giêsu, để người thời nay chuộng khoa học thực nghiệm dễ đón nhận Lời Chúa (x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo, 2014, tr.201).
Nền nhân bản Công giáo
24. Ta có thể định nghĩa rằng nền nhân bản mới này là một hệ thống suy tư và hành động lấy con người làm gốc, làm nền tảng, làm trung tâm để quy chiếu, như các nền chủ nghĩa nhân bản khác, thay vì lấy vật chất hay thần linh. Đây là hệ thống suy tư giúp con người có những nhận thức đúng đắn về bản chất, về nguồn gốc, về hướng đi, về mối tương quan, về mục đích cuối cùng của con người và cộng đồng nhân loại trong vũ trụ này (x. GS, số 3). Đồng thời đây cũng là hệ thống hành động bao gồm những kỹ năng sống để con người thể hiện cách tốt đẹp và hiệu quả các nhận thức trên.
25. Trong dòng lịch sử nhân loại, nhiều tôn giáo, trong đó có cả Kitô giáo, đã có những lúc quá chú trọng đến các hình thức lễ nghi dành cho thần linh, cho Thiên Chúa, mà coi nhẹ những hoạt động dành cho con người. Đây cũng là một trong các nguyên nhân phát sinh ra những thái độ từ chối thần thánh của con người tạo nên chủ nghĩa vô thần, nên chủ nghĩa này đã nhân danh con người hay xã hội loài người để đòi lại những gì mà các tôn giáo lấy của con người để đem về cho thần linh, cho Thiên Chúa (x. GS, số 19-21).
26. Nền nhân bản Công giáo đặt con người và xã hội con người vào điểm trung tâm để quy chiếu mọi hoạt động của Giáo hội Công giáo vào đó. Con người này, từ muôn thuở, được Thiên Chúa yêu thương, được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, nghĩa là có tinh thần với tình yêu và tự do theo kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa là tình yêu (x. GS, số 12-18; HTXHCG, chương 3; Docat, chương 3). Con người này dùng tự do để chối từ tình yêu với Thiên Chúa, cắt đứt với nguồn sống vĩnh hằng, tình yêu vô biên, quyền năng vô tận là Thiên Chúa dẫn đến cái chết và muôn vàn hậu quả tai hại khác cho mình và cộng đồng xã hội.
27. Nền nhân bản này có thể được gọi là nền nhân bản Kitô (không phải Kitô giáo), vì được xây dựng trên Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời Thiên Chúa tự nguyện trở thành người theo kế hoạt của Thiên Chúa Cha (x. Ga 1,14; 3,16; Dt 4,15). Người sống như con người để làm cho mọi giá trị của con người thành cao cả vô biên, vì “mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể” (GS, số 22). Đức Giêsu Kitô đã tự nguyện chết trên thập giá để hoà giải con người và vạn vật với Thiên Chúa, và đã sống lại để chia sẻ sự sống kỳ diệu, vĩnh hằng của chính Thiên Chúa, nhờ đó, con người mở ra với siêu việt và hướng tới vô biên (TLHTXHCG, số 130; Docat, câu 53).
28. Nền nhân bản Công giáo nhằm mục tiêu đổi mới và xây dựng mỗi tín hữu và những ai thành tâm thiện chí thành hiện thân sống động của Đức Giêsu Kitô (TLHTXHCG, số 58). Người là con người mới, con người hoàn hảo vì nhờ Người mà bản tính nhân loại được nâng cao và đạt tới một phẩm giá siêu việt.
29. Nhờ kết hợp với Đức Giêsu Kitô, người tín hữu sẽ nhận được “những hoa trái đầu mùa của Thánh Thần” (Rm 8,23) để trở thành con người mới (TLHTXHCG, số 19, 36), có khả năng chu toàn luật yêu thương mới (x. Mt 22,40; Ga 15,12; Rm 8,1-11), xây dựng được nền văn minh tình yêu cho cộng đồng nhân loại vì Đức Giêsu Kitô là nguyên mẫu và là nền tảng của nhân loại mới này (x. TLHTXHCG, số 431). Lúc đó loài người sẽ vượt qua bí ẩn của đau khổ và sự chết để sống trọn vẹn trong niềm vui, bình an và tình yêu của Thiên Chúa (x. TLHTXHCG, số 583).
30. Nền nhân bản Công giáo được gọi là nhân bản tâm linh vì liên quan đến “con người duy nhất và toàn diện với thể xác và linh hồn, tình cảm và lương tri, trí khôn và ý chí (x. TLHTXHCG, số 583). Đồng thời, nó cũng để ý đến mọi lĩnh vực hoạt động và tương quan của con người trong đó có tương quan với Thiên Chúa. Con người được mời gọi hãy khám phá nguồn gốc, mục tiêu và lịch sử đời mình nơi sự hoà nhập yêu thương của Thiên Chúa (TLHTXHCG, số 34), nhờ mạc khải Kitô giáo, con người đã hiểu biết bản sắc, ơn gọi và định mệnh cuối cùng của con người và của nhân loại (TLHTXHCG, số 35). Do đó, nó được gọi là nền nhân bản toàn diện và liên đới (TLHTXHCG, số 19).
Nền nhân bản toàn diện
31. “Nền nhân bản toàn diện bao gồm mọi lĩnh vực của con người như thể xác và tinh thần, cá nhân và tập thể, tự nhiên và siêu nhiên, nội tâm và ngoại giới, vì con người là một mầu nhiệm không thể nào khám phá cho cùng…” (x. Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Cẩm nang Tân Phúc Âm hoá, NXB Tôn Giáo, 2014, tr.315-317).
Thể xác và tinh thần
32. Con người được Thiên Chúa tạo dựng thành một thể thống nhất với tinh thần và thể xác. Hai yếu tố thể xác và tinh thần đều do Thiên Chúa dựng nên, không phải bắt nguồn từ hai sức mạnh đối nghịch nhau (x. TLHTXHCG, số 127; GS, số 14). Thông qua thân xác mình, con người thống nhất nơi mình các yếu tố của thế giới vật chất. Mỗi ngày, qua đồ ăn, thức uống, khí trời… con người hoà hợp với vạn vật trong vũ trụ và thống nhất chúng nơi mình (x. TLHTXHCG, số 128). Nhờ tinh thần, con người có thể khám phá vạn vật với cấu trúc của chúng và thấy mình vượt lên trên thế giới vật chất nhờ phẩm giá độc đáo và lương tâm ngay chính (TLHTXHCG, số 129). Đó là định luật: “tinh thần định hình cho vật chất”.
Cá nhân và tập thể
33. Lịch sử loài người đã cho chúng ta thấy những xung đột giữa hai hệ tư tưởng hay chủ nghĩa cá nhân và tập thể với những cuộc chiến tranh, tàn sát ghê rợn. Nguyên nhân là vì con người không nhận ra phẩm giá cao quý của mình và của người khác, đó là mọi người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (x. TLHTXHCG, số 144), dù họ là nam hay nữ (TLHTXHCG, số 110-114, 146-148), mạnh khoẻ hay khuyết tật (x. TLHTXHCG, số 148) hoặc thuộc bất cứ giai cấp xã hội nào.
34. “Con người không phải là một hữu thể cô độc mà là một hữu thể xã hội, không thể nào sống cũng như không thể nào phát triển tiềm năng của mình bao lâu con người không liên hệ với người khác” (GS, số 12; TLHTXHCG, số 110). Con người là một cá nhân độc đáo (x. Docat, câu 54). và không thể sao chép trong số hơn 8 tỉ người đang sống trên trái đất, nhưng mỗi con người cũng đang sống với những người khác làm thành một gia đình nhân loại (x. TLHTXHCG, số 125-126).
35. Nhờ tinh thần, con người có thể gặp gỡ những người khác để xây dựng thành những cộng đồng yêu thương. Cộng đồng đầu tiên và cơ bản là gia đình (chương 5 của TLHTXHCG và Docat), xí nghiệp và cộng đồng nơi mình lao động (chương 6), hay làm kinh tế (chương 7), làm chính trị (chương 8) hay hoà nhập với mọi người trong cộng đồng quốc tế (chương 9) để cùng xây dựng và đem lại hạnh phúc cho nhau.
Tự nhiên và siêu nhiên
36. Tự nhiên chỉ toàn bộ những gì tồn tại sẵn có trong con người, xã hội và vũ trụ mà không phải do con người tạo ra hoặc tác động hay can thiệp vào. Còn siêu nhiên là có tính chất, khả năng vượt ra khỏi phạm vi tự nhiên, không thể giải thích bằng các quy luật tự nhiên. Nền nhân bản tâm linh Kitô xác định cho chúng ta rằng: Thiên Chúa là nguồn của mọi hiện hữu” (x. TLHTXHCG, số 20). Ngài dựng nên thế giới và loài người chúng ta theo một kế hoạch đã định trước: đó là diễn tả bản tính yêu thương của Ngài, vì Thiên Chúa là tình yêu (x. 1Ga 4,16; Docat, chương 1).
37. “Trật tự tự nhiên” đã kỳ diệu với những khám phá về con người và vũ trụ, thì những gì thuộc “trật tự siêu nhiên” còn tiến hoá khôn lường. Tinh thần của con người mở ra đến vô biên vì không bị lệ thuộc vào vật chất, không gian, thời gian. Tinh thần đó được biểu lộ qua những tư tưởng, ước muốn, tình cảm, hành động để con người sáng tạo nên những khoa học, theo đuổi nghệ thuật, đi tìm những gì thuộc về chân thiện mỹ tồn tại mãi mãi, vươn tới sự thật toàn diện và điều thiện tuyệt đối.
38. Vì thế, HTXHCG quả quyết: “mở ra với siêu việt là một đặc tính của con người: con người mở ra với Đấng vô biên cũng như với mọi thụ tạo” trong đó có các thiên thần, hồn người đã khuất và cả vũ trụ vạn vật (x. TLHTXHCG, số 130; Docat, câu 53). Đây là điểm khá mới mẻ đối với con người hiện nay, nhưng lại không xa lạ với Đức Giêsu Kitô và các môn đệ thời Giáo Hội sơ khai khi Người và họ phán bảo cho gió im, biển lặng, bánh cá hoá nhiều, chữa lành bệnh tật, cho kẻ chết sống lại, xua trừ ma quỷ để giải phóng con người.
Nội tâm và ngoại giới
39. “Con người đã không lầm khi nhận biết mình cao quý hơn vũ trụ vật chất và không coi mình chỉ như một mảnh nhỏ của thiên nhiên hay như một phần tử vô danh trong xã hội loài người. Bởi vì nhờ có nội tâm, con người vượt trên vạn vật: khi con người quay về với lòng mình là lúc họ tìm về nơi nội giới thâm sâu này. Ở đó, Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm hồn đang chờ đợi họ và cũng chính nơi đó, con người tự định đoạt về vận mệnh riêng của mình dưới ánh mắt của Thiên Chúa” (GS, số 14; x. TLHTXHCG, số 128; Docat, câu 47). Đó chính là hồn thiêng bất tử mà Thiên Chúa dựng nên cho con người.
40. Vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người có phẩm giá của một ngôi vị, là một ai đó chứ không phải là một thứ gì đó. Con người có khả năng nhận biết bản thân và suy ngẫm về chính mình, đưa ra quyết định tự do và bước vào mối tương quan với người khác. Hơn nữa, con người được ơn Chúa thúc đẩy để đáp lời mời gọi của Chúa bằng đức tin và tình yêu, đi tìm Chúa, hoà nhập với Chúa và Đức Giêsu Kitô để phát triển trọn vẹn tiềm năng làm người của mình (x. TLHTXHCG, số 108-109, 131; Docat, câu 47).
41. Ngoại giới được hiểu là toàn thể thế giới ở bên ngoài con người. Khi hiểu con người hiện hữu như một cái “tôi” có khả năng hiểu mình, làm chủ mình và tự quyết về mình, thì cần phải tôn trọng nhân phẩm siêu việt của con người. Không một tổ chức chính trị, xã hội, khoa học, văn hoá, kinh tế nào được quyền sử dụng con người như là một phương tiện để thực hiện các dự án của mình, hoặc lèo lái con người vào những mục tiêu xa lạ với sự phát triển trọn vẹn của con người (TLHTXHCG, số 132-134).
42. Tuy nhiên, con người cũng hiểu rằng ngoại giới và mình cần phải liên kết mật thiết với nhau. Con người thống nhất nơi mình các yếu tố của thế giới vật chất và thông qua con người, chúng tự do cất lời ca ngợi Đấng Tạo Hoá (x. GS, số 14, HTXHCG, số 128). Con người có trách nhiệm phải bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống của mình (x. Chương 10 của TLHTXHCG và Docat).
Nền nhân bản liên đới
43. Con người toàn diện có 4 quan hệ căn bản với 4 tinh thần phải giữ để làm cho các mối quan hệ tốt đẹp và bền vững:
– Đối với Thiên Chúa, giữ tinh thần thảo hiếu (x. HTXHCG, số 105,108, 357; GS, số 12).
– Đối với người khác, giữ tinh thần huynh đệ (x. HTXHCG, số 112)
– Đối với vạn vật, giữ tinh thần huynh trưởng (HTXHCG, số 113;; GLHTCG, số 373).
– Đối với chính mình, giữ tinh thần tự chủ (x. GS, số 22; HTXHCG, số 14; 115-123, 174, 176, 177).
Kết luận
Khi hiểu nền nhân bản được Giáo hội Công giáo cổ vũ là một nền nhân bản toàn diện và liên đới, người tín hữu sẽ rất tự hào và quyết tâm xây dựng cho mình, cũng như cho cộng đồng mình, thành những con người mới trong một trời mới, đất mới (x. GS, số 39; HTXHCG, số 123), được Chúa Giêsu Phục Sinh bắt đầu ngay tại trần thế này. Chỉ nhờ nền nhân bản này, con người mới có thể phát triển trọn vẹn và cộng đồng xã hội mới đạt được an vui, hạnh phúc vững bền.