18/02/2026

Chúa Nhật III TN A, 25.1.2026
Người môn đệ thừa sai toả sáng

Tin Mừng hôm nay mời gọi người Kitô hữu, cách riêng là người trẻ, ý thức sứ mạng thừa sai trong thế giới hôm nay: biết hội nhập văn hoá, gắn bó sâu xa với Đức Kitô và để ánh sáng Tin Mừng toả chiếu qua đời sống đức tin cụ thể.

Chúa Nhật III TN A, 25.1.2026

Người môn đệ thừa sai toả sáng

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn

Lời mở

Bài đọc I và bài Tin Mừng đều nhắc đến việc Đức Giêsu đến ở Caphanaum và rao giảng Tin Mừng, chữa lành bệnh tật để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia rằng: “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được thấy ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (x. Is 8,23-9,3; Mt 4,12-17). Vậy là môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta nên tìm hiểu tại sao cần toả sáng và toả sáng như thế nào?

1. Cần toả sáng vì việc loan báo Tin Mừng (LBTM) chưa có kết quả khả quan

Sau 2.000 năm, việc LBTM chưa có kết quả tốt đẹp. Vào năm 2025, tỷ lệ người Kitô giáo trên toàn thế giới chiếm khoảng 31% với 2,64 tỷ người và đang có chiều hướng giảm. Tỷ lệ người Công giáo chiếm khoảng gần 18% với 1,406 tỷ người và cũng có chiều hướng giảm, do người trẻ bỏ tôn giáo. Trong khi người Hồi giáo chiếm 25% dân số toàn cầu với 2 tỷ người đang có chiều hướng tăng, chủ yếu là do tăng về nhân khẩu.

Ở Việt Nam, sau gần 500 năm truyền đạo, từ năm 1533 đến nay, Công giáo hiện đang có khoảng hơn 7,2 triệu người, chiếm tỷ lệ 7,21% dân số. Vào năm 1840, Công giáo có khoảng 12% dân số. Sau thời bắt đạo khủng khiếp từ năm 1840-1885 với khoảng 100.000 người bị giết, dân số Công giáo còn khoảng 8%. Từ năm 1885 đến nay, tỷ lệ Công giáo VN không tăng, trong khi Giáo hội Công giáo Hàn Quốc tăng từ 1% vào năm 1949 đến 13% năm 2023.

Chúng ta cần phải đặt ra câu hỏi: tại sao con người thời nay, nhất là các bạn trẻ, lãnh đạm với tôn giáo?

Qua các cuộc nghiên cứu và tìm hiểu, người ta nhận ra rằng: con người thời nay tin khoa học kỹ thuật có thể giải quyết được những vấn đề của mình như bệnh tật, già yếu, đói khổ mà trước đây chúng tuỳ thuộc vào thần linh. Người ta lãnh đạm vì thấy rằng chiến tranh, xung đột, có thể được giải quyết bằng việc tổ chức lại xã hội cho tốt đẹp hơn khi mọi người nhận ra nhau là anh chị em của mình và thấy tôn giáo không có ý nghĩa gì với đời sống hưởng thụ của mình. Họ lãnh đạm vì không ai giúp cho họ hiểu con người thật sự là ai, nhân phẩm cao quý như thế nào, Thiên Chúa thật sự là ai và đang yêu thương họ như thế nào. Họ thấy nhiều tôn giáo, ngay cả Công giáo, dạy những điều chưa đúng với sự thật về con người, về vũ trụ mà khoa học dạy cho họ; không loan báo Tin Mừng bằng ngôn ngữ của thời đại, mà vẫn theo cách thức truyền giáo của vài thế kỷ trước; không minh chứng được bằng thực tế của đời sống và bằng cả các phép lạ như chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ, làm cho kẻ chết sống lại và nhất là quan tâm đến việc LBTM cho người nghèo.

Đó cũng là vì Giáo hội Công giáo gần đây chưa biết hội nhập vào nền văn hoá thế giới, không quan tâm đến việc hội nhập văn hoá như một nguyên tắc chủ đạo mà Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhiều lần nhắc đến và được các Thượng Hội đồng giám mục XIII và XVI đòi hỏi.

Vậy ở Việt Nam, nguyên nhân chính yếu nào làm cho các bạn trẻ xa lánh tôn giáo?

Các nhà nghiên cứu thấy rằng do các bậc cha mẹ chỉ biết đạo ông bà, thờ kính tổ tiên, nên không dạy con cái về tôn giáo. Do chính người Công giáo cũng chưa sống đạo tốt đẹp để làm chứng về Chúa Giêsu Kitô và những người có trách nhiệm chưa quan tâm đến việc hội nhập văn hoá. Do đời sống thực dụng, suy thoái đạo đức: xa hoa, giả dối, vô cảm, hưởng thụ vật chất của nhiều người trong xã hội, trong đó có cả những người theo các tôn giáo.

Nhưng nguyên nhân chính yếu là do các giá trị tinh thần của tôn giáo bị đả phá và loại bỏ trong các bộ sách giáo khoa, từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam, tạo nên những định kiến sai lạc về tôn giáo. Hệ tư tưởng duy vật, duy khoa học được phổ biến rộng rãi đã ảnh hưởng rất nhiều đến người trẻ, khiến người ta hiểu lầm tôn giáo là mê tín và làm tha hoá con người.

2. Chúng ta cần toả sáng như thế nào?

Trước hết, chúng ta phải hội nhập vào nền văn hoá thế giới để có thể loan báo Tin Mừng một cách hiệu quả.

Lý do là vì nền văn hoá thế giới luôn có những khám phá mới mà người môn đệ Chúa Kitô cần phải biết để chứng minh sự hiện diện của Thiên Chúa. Ví dụ như những khám phá về cấu trúc phân tử của con người với 3 tỷ base ADN trong mỗi nhân tế bào năm 2004, giải mã xong 20.000 gen trong 23 đôi nhiễm sắc thể năm 2022, hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh trong bộ não người, cấu trúc của vũ trụ với 118 nguyên tố vật chất hoàn toàn vô hồn, vô cảm năm 2016… Tất cả những sự thật khoa học đó giúp thế giới thấy rằng giả thuyết vạn vật tự tiến hoá ngẫu nhiên của Darwin là hoàn toàn sai lầm, và vật chất không bao giờ có thể tự tiến hoá thành tinh thần. Vì thế tình yêu, tư tưởng, độc lập, tự do, hạnh phúc, chân thiện mỹ… mà con người đang có, cần phải đưa con người tìm về nguồn của chúng. Đấy là những sự thật mà người môn đệ thừa sai phải biết và phải toả sáng.

Khai mạc lễ hội “TPHCM phát triển và hội nhập” 2019 | BÁO SÀI GÒN GIẢI PHÓNG

Tiếp theo, chúng ta phải đưa sứ điệp Kitô giáo vào trong nền văn hoá của các dân tộc và của nền văn hoá nhân loại cũng như đưa các giá trị phù hợp với Tin Mừng của các nền văn hoá ấy vào Kitô giáo, theo gương Chúa Giêsu trong mầu nhiệm nhập thể và nhập thế của Ngôi Lời, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần trong mỗi tín hữu.

Lý do là vì nền văn hoá nhân loại luôn có những giá trị mới như tự do, công bình, tình yêu, hành động, chân thiện mỹ… cần được người môn đệ phân định tốt xấu để thích nghi với các điều liên quan đến thần học, Thánh Kinh, mục vụ, tu đức của Công giáo. Nhiều bạn trẻ hiểu tự do là muốn làm gì thì làm, hiểu yêu là phải ngủ với nhau vì hiểu lầm tình yêu với tình dục… Giáo huấn xã hội của Giáo hội Công giáo dạy chúng ta tất cả những giá trị ấy, nhưng chúng ta lại không tìm hiểu để chia sẻ cho mọi người.

Hơn nữa, vì chủ thể xã hội là những người nghe loan báo Tin Mừng có thể đã có sẵn những di sản văn hoá, những nhận thức, những giá trị… mà nếu ta không biết hội nhập thì ta không thể loan báo Tin Mừng cho họ. Ví dụ: vào thế kỷ XVII-XVIII việc loan báo Tin Mừng ở Trung Quốc cũng như ở châu Á không hiệu quả do Giáo hội Công giáo chối từ việc thờ kính tổ tiên và tôn kính Đức Khổng Tử ở Trung Quốc.

Cuối cùng, muốn toả sáng thật sự, ta cần tăng cường mối quan hệ của ta với Chúa Giêsu nhờ việc kết hợp mật thiết để Người chuyển thông cho ta sức sống, quyền năng và tình yêu vô biên của Người. Nhờ đó ta mới có thể phát huy tất cả những ân huệ của Thánh Thần để sống và thể hiện các giá trị của Tin Mừng. Chúng ta không chỉ toả sáng nhờ ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào, như mặt trăng hay trái đất nhờ ánh sáng mặt trời, nhưng tự thân toả sáng vì Chúa Giêsu và Thánh Thần ở trong ta.

Lời kết

Vì thế, thánh Phaolô mới nhắc nhở ta rằng: “Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng”( 1Cr 1,17).

.