18/10/2026

Chúa Nhật XXIX TN A, 18/10/2026
Chúa Nhật Truyền giáo
Loan báo Tin Mừng Nước Trời

Câu nói nổi tiếng của Chúa Giêsu “Cái gì của Cêzarê thì hãy trả cho Cêzarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa” không còn cổ vũ sự tách biệt hai lĩnh vực đạo đời, mà thúc đẩy sự hoà hợp và thâm nhập của người tín hữu vào mọi lĩnh vực sinh hoạt của thế giới vì Thiên Chúa đã in hình ảnh của Ngài vào từng con người và muôn loài trong vũ trụ này.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, HKK

Lời mở

Bài Tin Mừng (x. Mt 22, 15-21) trình bày câu nói nổi tiếng của Chúa Giêsu “Cái gì của Cêzarê thì hãy trả cho Cêzarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”. Câu nói này được các nhà thần học của nhiều tôn giáo cũng như chính quyền dân sự giải thích theo những chiều hướng khác nhau trong suốt dòng lịch sử. Nhưng trong tinh thần của ngày Chúa Nhật Truyền Giáo, chúng ta được mời gọi tìm hiểu ý nghĩa thâm sâu của Lời này qua tông huấn “Niềm vui của Tin Mừng” (Gaudium Evangelii) mà Đức Giáo hoàng Phanxicô muốn gửi đến chúng ta vào năm 2013.

1. Những cách hiểu cũ

Bối cảnh của câu chuyện xảy ra: vào thời Chúa Giêsu, dân tộc Do Thái ở xứ Palestine nằm dưới quyền cai trị của đế quốc La Mã với Cêsarê là hoàng đế. Theo luật La Mã, mỗi người nam từ 14 đến 65 tuổi đều phải đóng thuế. Phái Hêrôđê thân chính quyền La Mã sẵn sàng nộp thuế, còn nhóm biệt phái Pharisêu lại cấm thành viên của họ nộp thuế để chống đối chính quyền. Tuy nhiên cả hai đã liên kết với nhau để gài bẫy Chúa Giêsu. Họ đặt câu hỏi: “Có được phép nộp thuế cho Cêsarê hay không?”.

Nêu lên câu hỏi này, nhóm Biệt Phái chỉ chờ câu trả lời “Có” của Chúa Giêsu để kết án Người là đi với đế quốc, phản bội dân tộc và như thế dân chúng sẽ không còn tin tưởng theo Người nữa. Còn nhóm Hêrôđê chờ câu trả lời “Không” để tố cáo Người sách động dân chúng, chống đối chính quyền và bị bắt giam. Trả lời có hay không đều bất lợi cho Chúa Giêsu. Tuy nhiên tất cả các phe phái đểu sững sờ và chưng hửng trước câu trả lời vô cùng khôn ngoan của Chúa Giêsu, khi Ngưởi chỉ hình ảnh và danh hiệu của Cêsarê trên đồng tiền để yêu cầu trả cho ông ta những gì thuộc về ông.

Chúa nhật 29 Thường Niên – Năm A (Mt 22,15-21) -

Trong dòng lịch sử, nhiều học giả trích dẫn câu này khi đề cập đến mối quan hệ giữa tôn giáo tượng trưng cho Thiên Chúa và chính trị tượng trưng cho Cêsarê. Hầu hết, người ta muốn tách biệt hai lĩnh vực để những người của đôi bên không xâm phạm hay can thiệp vào nội bộ của nhau. Theo kiểu “nước sông không phạm nước giếng” của giới võ lâm giang hồ.

Tuy nhiên, trong thực tế, vì con người là một chủ thể vừa theo một tôn giáo lại vừa sống dưới sự cai trị của chính quyền, nên mối quan hệ này không phải luôn luôn tốt đẹp. Khi Giáo Hội Công Giáo lan rộng khắp đế quốc La Mã và chiếm đa số trong một dân tộc nào đó, thì những người của giáo quyền thường lạm dụng và xâm phạm lĩnh vực dân sự. Hoặc ngược lại khi tôn giáo chỉ chiếm thiểu số trong một đất nước, thì chính quyền lại thường mạnh tay can thiệp vào lĩnh vực tôn giáo của người dân.

Hơn nữa, nhiều người còn trích dẫn câu trả lời của Chúa Giêsu cho quan Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (x. Ga 18,36) để tách biệt hoạt động của Giáo Hội ra khỏi thể chế chính trị trần thế. Nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân cũng dựa vào câu trả lời này để chỉ chú tâm vào các hoạt động tôn giáo và không quan tâm đến các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… dù họ cũng là công dân của một quốc gia và là thành phần của cộng đồng xã hội.

Chính vì chỉ quan tâm đến lĩnh vực tôn giáo từ thế kỷ XV đến nay nên nhiều học viện, tu viện Công giáo đã không còn theo dõi các tiến bộ của các khoa học nhân văn, nhất là các khám phá của khoa học từ đầu thế kỷ XXI về con người và vũ trụ. Sau giả thuyết tiến hoá của vật chất do Charles Darwin khởi xướng năm 1859, các nhà thần học Công giáo càng né tránh các khoa học thực nghiệm để chỉ quan tâm đến triết học, thần học và các lĩnh vực của đức tin. Họ không biết đến việc hội nhập văn hoá, không dám có mặt trong cuộc đối thoại với các nền văn hoá và khoa học (x. Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 238), nên không biết giải thích thế nào để giúp cho những người trí thức, nhất là các người trẻ, cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống. Hậu quả là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô không còn được loan báo và đón nhận dễ dàng như thời kỳ đầu của Giáo Hội nữa.

2. Những đòi hỏi của việc Loan báo Tin Mừng

Loan báo Tin Mừng là làm cho Nước Trời hay Vương Quốc Thiên Chúa hiện diện trong thế giới. Nhưng nếu việc này không được hiểu một cách đúng đắn, thì luôn luôn có nguy cơ xuyên tạc ý nghĩa đích thực và trọn vẹn của sứ mệnh loan báo Tin Mừng (x. Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 176). Việc loan báo này đòi hỏi ta phải tin tưởng dấn thân vào cộng đồng xã hội trong mọi lĩnh vực thay vì tách biệt chúng.

Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc bảo rằng: “Tin vào một người Cha yêu thương mọi người với một tình yêu vô biên có nghĩa là nhận ra rằng “qua đó Ngài ban cho họ một phẩm giá vô hạn”. Tin rằng Con Thiên Chúa mặc lấy xác thịt nhân loại có nghĩa là mỗi con người đã được đưa vào chính trái tim của Thiên Chúa. Ơn cứu chuộc chúng ta có một chiều kích xã hội bởi vì “Thiên Chúa, trong Đức Kitô, không chỉ cứu chuộc từng cá nhân, nhưng còn cứu chuộc các mối tương quan xã hội giữa con người với nhau”. Tin rằng Chúa Thánh Thần hoạt động trong mỗi người có nghĩa là nhận ra rằng Người tìm cách thâm nhập mọi tình huống của con người và mọi mối liên kết xã hội”.

“Chính mầu nhiệm Ba Ngôi nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta đã được dựng nên theo hình ảnh sự hiệp thông thần linh ấy, vì vậy chúng ta không thể hoàn thành bản thân hay được cứu độ mà chỉ dựa vào cố gắng của riêng mình. Từ tâm điểm của Tin Mừng chúng ta thấy mối liên kết sâu xa giữa loan báo Tin Mừng và thăng tiến con người, sự thăng tiến này bắt buộc phải được biểu hiện và phát triển trong mọi hoạt động loan báo Tin Mừng” (x. Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 178).

“Việc loan báo Tin Mừng sẽ không hoàn hảo nếu nó không lưu tâm tới tác động qua lại liên tục của Tin Mừng và đời sống cụ thể của con người, đời sống cá nhân cũng như xã hội” (x. ĐTC Phaolô VI, Tông Huấn Evangelii Nuntiandi, ngày 8-12-1075, 29: AAS 68 (1976), 25). 

Việc Thiên Chúa chọn một vị vua ngoại đạo Cyrô thực hiện kế hoạch cứu độ để mang lại hoà bình và an vui cho mọi người chính là lời mời gọi các chính quyền trên trái đất cùng chung tay thực hiện công lý và tình thương cho các dân tộc bởi vì mọi người đều là anh chị em của nhau trong đại gia đình Thiên Chúa (x. Is 45,1, 4-6).

Thánh Phaolô cũng nhắc nhở rằng: nếu chúng ta mở lòng đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô được ngài loan báo, thì chúng ta sẽ thấy “Tin Mừng đó không phải chỉ là lời nói mà là đi cùng với quyền năng, với Thánh Thần và với lòng xác tín” (1 Tx 1,5).

Lời kết

Như thế, câu nói nổi tiếng của Chúa Giêsu trên đây không còn cổ vũ sự tách biệt hai lĩnh vực đạo đời, mà thúc đẩy sự hoà hợp và thâm nhập của người tín hữu vào mọi lĩnh vực sinh hoạt của thế giới vì Thiên Chúa đã in hình ảnh của Ngài vào từng con người và muôn loài trong vũ trụ này. Amen.