Thứ Năm 05/11/2026
Niềm vui của Thiên Chúa khi tìm lại người lạc mất
Chú giải Lc 15,1-10: Thiên Chúa yêu thương tìm kiếm người lạc mất, vui mừng khi họ sám hối và mời chúng ta cùng Người đón nhận, dẫn đưa anh chị em trở về.
Thứ Năm Tuần XXXI – Mùa Thường Niên
Pl 3,3-8a • Tv 104,2-3.4-5.6-7 (Đ. c.3b) • Lc 15,1-10
Trên trời ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.
✠ Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca
1 Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. 2 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” 3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:
4 “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? 5 Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. 6 Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.’ 7 Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.
8 “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? 9 Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.’ 10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”
Chú giải Lc 15,1-10

Đoạn Tin Mừng trước dường như cho thấy Đức Giêsu đòi hỏi đến mức triệt để nhất:
“Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.”
Hôm nay, chúng ta lại thấy nơi Người một tấm lòng cảm thông và nhân hậu. Hai khía cạnh này không hề mâu thuẫn với nhau.
Tin Mừng kể rằng những người thu thuế và những người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Đối với một số người Pharisêu và các kinh sư, điều ấy thật chướng tai gai mắt. Họ nói:
“Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.”
Trong tiếng Hy Lạp, cách gọi houtos — “ông này” — ở đây hàm chứa một thái độ khinh miệt.
Theo suy nghĩ của họ, bất cứ ai kính sợ Thiên Chúa, huống chi là một rápbi — một bậc thầy — đều phải tuyệt đối tránh giao du với những người như thế.
Giao tiếp với họ đã là điều khó chấp nhận; cùng ăn uống với họ lại càng không thể tưởng tượng được. Họ bị coi là ô uế, và ai ngồi đồng bàn với họ cũng sẽ trở nên ô uế. Ăn uống với một người là dấu hiệu nhìn nhận và đón nhận người ấy. Nhưng trong mắt những người Pharisêu, đây chỉ là những kẻ tội lỗi đáng khinh và ô uế. Vì thế, việc Đức Giêsu làm càng củng cố xác tín của các kinh sư và người Pharisêu rằng cần phải loại trừ Người.
Để đáp lại, thánh Luca thuật lại ba dụ ngôn riêng biệt, cùng diễn tả một chủ đề. Hôm nay, chúng ta được nghe hai dụ ngôn đầu. Dụ ngôn thứ ba và nổi tiếng nhất — người con hoang đàng — được đọc vào một dịp khác trong phụng vụ, tức Chúa Nhật XXIV Thường Niên năm C. Mỗi dụ ngôn đều phác họa thái độ của Thiên Chúa đối với người tội lỗi, một thái độ rất khác với thái độ của người Pharisêu.
Dụ ngôn thứ nhất kể về một người chăn chiên đánh mất một con trong số một trăm con chiên được giao cho mình chăm sóc. Hình ảnh chiên và người mục tử rất quen thuộc trong Cựu Ước. Chúng ta nhớ đến Thánh vịnh 23 nổi tiếng: “CHÚA là mục tử chăn dắt tôi…”, cũng như đoạn văn tuyệt đẹp trong sách Êdêkien (34,11-16).
Không chút do dự, người mục tử tốt lành để chín mươi chín con chiên “ngoan” lại và lên đường tìm con chiên lạc. Khi tìm được, người ấy vác nó lên vai, hân hoan trở về và mời bạn bè, hàng xóm đến chung vui:
“Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.”
Đức Giêsu kết luận: cũng vậy, trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi chân thành sám hối và trở về với Thiên Chúa hơn là vì nhiều người “công chính” — hay tự cho mình là công chính — không cần sám hối, hoặc nghĩ rằng mình không cần sám hối.
Ở đây dường như có một giọng điệu châm biếm đầy ý nhị. Có ai mà chẳng có lúc cần sám hối về một điều gì đó? Đức Giêsu trình bày một thái độ hoàn toàn khác đối với người tội lỗi biết ăn năn, và Người cho thấy đó chính là thái độ của Thiên Chúa.
Dụ ngôn thứ hai cũng tương tự. Một phụ nữ có “mười đồng bạc” — những đồng đrakhma, có lẽ là toàn bộ tài sản của bà — nhưng lại đánh mất một đồng. Chẳng lẽ bà không lục tung cả nhà để tìm cho bằng được sao? Một ngôi nhà như thế thường không có cửa sổ, nền đất gồ ghề — và dĩ nhiên không có điện! — nên việc tìm kiếm hẳn rất khó khăn. Nhưng khi cuối cùng tìm được, bà sẽ mời bạn bè, hàng xóm đến chia sẻ niềm vui:
“Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã đánh mất.”
Đức Giêsu kết luận:
“Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”
Dĩ nhiên, cách nói “giữa triều thần Thiên Chúa” hướng chúng ta đến chính Thiên Chúa và niềm vui của Người.
Chúng ta cần nhớ rằng Đức Giêsu kể những câu chuyện này để đáp lại lời chỉ trích của một số kinh sư và người Pharisêu. Người không có lý do gì phải xin lỗi về việc mình giao tiếp với những người thu thuế, những người tội lỗi và những người bị gạt ra bên lề xã hội cũng như đời sống tôn giáo. Người giống như người mục tử hay người phụ nữ trong hai dụ ngôn: Người đi tìm những ai đang lạc mất để đưa họ trở về.
Người dành thời gian ở bên họ không phải vì Người xem nhẹ những việc họ làm. Trái lại, mục đích của Người chính là giúp họ thay đổi. Nhưng Người không thể làm điều đó nếu cứ đứng xa họ.
Lối suy nghĩ của người Pharisêu thì khác. Theo họ, những người mà Đức Giêsu đang giao du đều tội lỗi và ô uế; vì thế, người “tốt” phải tránh mọi hình thức tiếp xúc với họ, kẻo chính mình cũng trở nên ô uế.
Hãy chú ý đến sự khác biệt trong động lực hành động. Người Pharisêu chỉ nghĩ đến việc giữ cho bản thân được thanh sạch về mặt thiêng liêng và nghi lễ. Đức Giêsu lại nghĩ đến người đang lạc mất, cần được đưa trở về với chân lý và tình yêu. Vì thế, Người chủ động đến với họ. Người tìm đến tận nơi người tội lỗi đang sống.
Người Pharisêu nghĩ mình vững mạnh về mặt thiêng liêng và luân lý, nhưng việc né tránh người tội lỗi lại cho thấy họ sợ bị lây nhiễm. Đức Giêsu không sợ sự lây nhiễm ấy — chính Người mới thực sự vững mạnh. Người có thể ở giữa những người tội lỗi mà không trở thành người tội lỗi như họ.
Những điều này liên hệ rất nhiều đến đời sống Kitô hữu của chúng ta hôm nay. Có lẽ trong lòng chúng ta còn mang não trạng Pharisêu nhiều hơn mức chúng ta sẵn sàng nhìn nhận. Những người Công giáo “đạo đức” thường có khuynh hướng tránh xa những hoàn cảnh bị coi là “vô luân” và những người sống trong đó. Họ không muốn bị người khác nhìn thấy mình tại những nơi không có tiếng là “đàng hoàng”. Thậm chí, họ còn gọi những nơi ấy là “dịp tội”.
Chúng ta có xu hướng sống trong những nhóm khép kín — có lẽ khó mà gọi đó là những “cộng đoàn” — chỉ lo chăm sóc đời sống thiêng liêng của riêng mình. Nhưng đó không phải là Hội Thánh mà Đức Kitô đã thiết lập. Chúng ta được mời gọi loan báo Tin Mừng. Chúng ta được mời gọi đến với người tội lỗi. Muốn làm được điều ấy, chúng ta phải đón tiếp và cùng ăn uống với họ.
Thay vì chỉ sống trong những khu dân cư yên ổn, được gìn giữ khỏi mọi điều bị coi là ô uế, chúng ta cần hiện diện tại những khu nghèo trong thành phố, nơi các quán rượu, câu lạc bộ, cả những khu “đèn đỏ”, để đến gần và lắng nghe; và khi có thể, đưa trở về một con chiên đang lạc mất, không biết mình đang đi về đâu.
Nguồn: https://sacredspace.com/commentary/o2315g/
Sống Lời Chúa
Hôm nay, trong giờ cầu nguyện tôi nhìn lại điều mình cần hoán cải, tôi có cái nhìn bao dung đối với anh chị em xung quanh tôi được coi là tội lỗi, tôi đối xử với người anh em đó như thế nào.
Lạy Chúa Giêsu, cảm tạ Chúa vẫn kiên nhẫn tìm con mỗi khi con lạc bước. Xin giúp con khiêm nhường trở về với Chúa và biết mở lòng đón nhận anh chị em, để cùng Chúa vui mừng khi một người tìm lại được đường về. Amen.