Làm sao giải quyết bùn thải?
Giải quyết bùn, chất thải… từ nạo vét cảng biển như thế nào là vấn đề cần được đặt ra và giải quyết. Bởi thực tế, đã và đang còn rất nhiều dự án thép, điện than… với lượng bùn, chất thải cực lớn phải xử lý.
Làm sao giải quyết bùn thải?
Giải quyết bùn, chất thải… từ nạo vét cảng biển như thế nào là vấn đề cần được đặt ra và giải quyết. Bởi thực tế, đã và đang còn rất nhiều dự án thép, điện than… với lượng bùn, chất thải cực lớn phải xử lý.
|
||||||||||||||||
Bình Thuận mới có công văn về việc báo cáo chủ trương phương án xử lý, sử dụng vật, chất nạo vét cảng, luồng và vũng quay tàu thay thế phương án nhận chìm xuống biển tại Trung tâm điện lực Vĩnh Tân. Cụ thể, UBND tỉnh thống nhất với Tập đoàn điện lực VN chọn phương án xây dựng kè chống xói lở kết hợp sử dụng vật, chất nạo vét cảng, luồng, vũng quay tàu để san lấp mặt bằng tại Trung tâm điện lực Vĩnh Tân. Như vậy toàn bộ vật, chất nạo vét 5,5 triệu m3 của dự án vũng quay tàu, cảng nhập than tại Trung tâm điện lực Vĩnh Tân sẽ được sử dụng để san lấp thay vì nhận chìm như ban đầu.
|
“Có nhất thiết cứ phải xem nguồn vật, chất nạo vét là chất thải phải đổ ra biển hay không, ngay cả với lý luận nó không độc hại? Tại sao không nhìn chúng như là một dạng tài nguyên để phục vụ xây dựng các công trình chống sạt lở ven biển, san lấp mặt bằng xây dựng các khu đô thị mới nếu chúng không chứa chất độc hại và phù hợp với vật liệu làm nền cho các công trình”, TS Huân đặt vấn đề và lập luận rằng mỗi năm, nước ta xây dựng rất nhiều khu đô thị mới ven biển cùng với hàng loạt khu vực bờ biển cần vật liệu phục vụ kè chắn sóng, chống sạt lở… Để làm việc đó, một lượng cực lớn đất đá phải lấy từ việc đào rừng, phá núi gây mất mỹ quan, sạt lở… Tại sao không nghiên cứu việc dùng chất thải nạo vét thay thế? Đã có nghiên cứu để trả lời là không hay chưa?
![]() Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân (Bình Thuận) sử dụng vật chất nạo vét để san lấp ẢNH: QUẾ HÀ |
|
Nhận chìm phải là giải pháp cuối cùng
Theo Quy hoạch điện 7 (điều chỉnh) dọc bờ biển VN từ Bắc tới Nam “ôm” hàng loạt dự án nhiệt điện than. Mỗi dự án này gắn với một dự án cảng biển để vận chuyển than. Cảng biển không chỉ nạo vét một lần mà hằng năm hoặc vài năm phải nạo vét duy tu, chất thải tích lũy là rất lớn. Vì vậy, cần chủ động nghiên cứu phương án xử lý các chất này một cách bài bản, mang tầm chiến lược vì nguồn thải sẽ tích lũy lớn trong thời gian dài.
Thừa nhận trên thế giới vẫn cho phép việc đổ thải, nhưng TS Lê Xuân Thuyên, Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM), nhấn mạnh tất cả đều có nghiên cứu, quy hoạch, chuẩn bị bài bản và thực hiện hết sức cẩn trọng. Đặc biệt, vấn đề không phải là có tác động hay không khi đổ thải vì tác động là không thể tránh khỏi. Cái họ quan tâm chính là phương án đổ thải có phải là tối ưu không? Nghĩa là cần chứng minh cơ sở để kết luận phương án chọn lựa (đổ chất thải ra biển) xét trên tổng thể là tối ưu (độ an toàn, tác động môi trường, ảnh hưởng đa dạng sinh học, cảnh quan, an sinh xã hội, hiệu quả kinh tế…).
“Ở nước ta, trước đây, việc đổ thải không được quan tâm nhiều do lượng chất thải còn ít. Nhưng hiện tại, khi lượng chất thải đưa ra biển ngày càng nhiều thì vấn đề môi trường cần phải được xem xét hết sức cẩn trọng, chu đáo. Cần phải chủ động nghiên cứu phương án xử lý chất thải nạo vét thật toàn diện, mang tầm chiến lược, trong đó đổ chất thải xuống biển chỉ nên là giải pháp được xem xét, đánh giá để có thể lựa chọn, nếu các giải pháp khác không khả thi. Tuy nhiên, dù cho giải pháp đổ thải ra biển được chọn lựa, cũng cần phải nghiên cứu tổng thể để có thể quy hoạch vùng đổ chất thải, dự báo chính xác nguồn chất thải theo thời gian, đánh giá tác động tổng hợp của các giải pháp xử lý để có thể chọn lựa phương án đổ thải đảm bảo an toàn môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học biển…”, TS Thuyên nhấn mạnh.
Cùng quan điểm, nhiều chuyên gia cho rằng tốt nhất là nên giảm các dự án điện than. Bởi không chỉ đứng trước lượng bùn thải khổng lồ phải giải quyết, phát triển điện than còn đưa lại nhiều hệ lụy cho môi trường, kinh tế. Hiện các dự án điện than phần lớn sẽ phải nhập khẩu than từ Trung Quốc, Indonesia hay Úc… Điều này về lâu dài sẽ khiến VN mất “tự chủ” an ninh năng lượng trong xu thế giá than ngày một tăng. Một lo ngại khác, các dự án điện than của VN nhiều khả năng sẽ là “bãi đáp” công nghệ điện than đang thoái trào ở Trung Quốc. Theo phân tích số liệu của Trung tâm phát triển sáng tạo Xanh (GreenID), cách nay 2 năm Trung Quốc chính là nhà đầu tư vào điện than VN lớn nhất với số vốn hơn 8 tỉ USD.
Thực tế, sự phát triển mạnh của điện gió và điện mặt trời hiện nay cần xem lại quy hoạch điện than. Đặc biệt, Thủ tướng mới ký Quyết định 39/2018/QD-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển điện gió. Theo đó, giá điện gió sẽ tăng từ 7,8 lên 8,5 cent (Mỹ) cho các dự án điện gió trong đất liền và 9,8 cent cho các dự án điện gió trên biển. Ông Tobias Cossen, Chương trình Hỗ trợ năng lượng của Tổ chức GIZ (Đức), đánh giá với tín hiệu rõ ràng khi Chính phủ tăng giá bán điện gió, chúng tôi hy vọng nhiều dự án sẽ được xúc tiến và nhanh chóng đi vào hoạt động.
Chí Nhân
|
CHÍ NHÂN


